![]() |
| Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong 8 tháng năm 2026. Ảnh: Tư liệu. |
Đà tăng xuất khẩu củng cố vị thế hàng Việt
Theo số liệu Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố ngày 3/8, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 8/2026 đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2% so với tháng trước và tăng 26% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 8 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 74,47 tỷ USD, tăng 7,4%, chiếm 19,9% tổng kim ngạch; khu vực FDI đạt 300,37 tỷ USD, tăng 26,9%, chiếm 80,1% tổng kim ngạch của cả nước. Cơ cấu này cho thấy, dư địa lớn để doanh nghiệp Việt Nam nâng tỷ trọng tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng xuất khẩu.
Có 33 mặt hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 93,6% tổng kim ngạch; 7 mặt hàng trên 10 tỷ USD, chiếm 70%. Điện tử, máy tính và linh kiện đạt trên 101 tỷ USD, tăng 51,1% so với cùng kỳ năm trước; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 47,3 tỷ USD, tăng 26,4%; điện thoại các loại và linh kiện đạt 45,6 tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ.
Cơ cấu hàng hóa tiếp tục nghiêng mạnh về công nghiệp chế biến. Nhóm này đạt 337,99 tỷ USD, chiếm 90,2%; nông sản, lâm sản đạt 26,65 tỷ USD, chiếm 7,1%; thủy sản đạt 8 tỷ USD, chiếm 2,1%; nhiên liệu và khoáng sản đạt 2,2 tỷ USD, chiếm 0,6%. Đây là nền tảng để xuất khẩu tiến sâu hơn vào các ngành có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao.
Về thị trường, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu đạt 122 tỷ USD. Xuất siêu sang Hoa Kỳ đạt 106,6 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước; sang EU đạt 31,4 tỷ USD, tăng 22,8%; sang Nhật Bản đạt 2,4 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ.
Những kết quả này cho thấy, mạng lưới thị trường và các hiệp định thương mại tự do (FTA) tiếp tục tạo dư địa cho hàng hóa của Việt Nam.
![]() |
| Khu vực FDI giữ vai trò chủ lực khi kim ngạch xuất khẩu đạt 300,37 tỷ USD, chiếm 80,1% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Ảnh: Tư liệu. |
Tuy nhiên, khi khu vực FDI chiếm 80,1% kim ngạch xuất khẩu, bài toán đặt ra không chỉ là tăng quy mô mà còn là tăng liên kết với doanh nghiệp trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng tỷ lệ nội địa hóa và đưa doanh nghiệp Việt Nam vào những công đoạn có giá trị cao hơn. Muốn tăng trưởng bền vững, doanh nghiệp nội địa cần nâng năng lực công nghệ, tiêu chuẩn, logistics và khả năng đáp ứng đơn hàng quốc tế. Đây cũng là điều kiện để giá trị xuất khẩu lan tỏa rộng hơn trong nền kinh tế.
Nhập khẩu tăng nhanh, cán cân thương mại tiếp tục đổi chiều
Tháng 8/2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1% so với tháng trước nhưng tăng 37,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu đạt 395,30 tỷ USD, tăng 35,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực trong nước đạt 105,07 tỷ USD, tăng 23,7%, còn khu vực FDI đạt 290,23 tỷ USD, tăng 40,1%.
Điều đáng chú ý là cơ cấu nhập khẩu cho thấy phần lớn dòng hàng đang phục vụ sản xuất. Nhóm tư liệu sản xuất đạt 372,04 tỷ USD, chiếm 94,1%, trong đó máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 57,6%; nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 36,5%. Vật phẩm tiêu dùng đạt 23,26 tỷ USD, chiếm 5,9%.
Điện tử, máy tính và linh kiện nhập khẩu đạt 161,63 tỷ USD, tăng 68,3%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 47,4 tỷ USD, tăng 22,1%; vải đạt 10,16 tỷ USD, tăng 2,5%. Quy mô nhập khẩu đầu vào công nghệ và thiết bị lớn phản ánh nhu cầu mở rộng sản xuất, đồng thời cho thấy mức độ phụ thuộc đáng kể vào nguồn cung bên ngoài.
Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 161,9 tỷ USD, nhập siêu 107,7 tỷ USD, tăng 41,7%; nhập siêu từ Hàn Quốc 37,8 tỷ USD, tăng 89,4%; từ ASEAN 13,5 tỷ USD, tăng 43,4%. Trong khi đó, xuất siêu sang Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản lần lượt đạt 106,6 tỷ USD; 31,4 tỷ USD và 2,4 tỷ USD. Cấu trúc này đòi hỏi cần đa dạng hóa nguồn cung.
Về cán cân thương mại, Việt Nam nhập siêu 20,46 tỷ USD trong 8 tháng năm 2026, trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu 14,02 tỷ USD. Khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 30,6 tỷ USD, còn khu vực FDI xuất siêu 10,14 tỷ USD. Đây là biến động cần tiếp tục được theo dõi sát sao trong thời gian tới.
Nhận định về vấn đề nhập siêu, bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê cho rằng: “Nhập siêu là điểm trừ trong tăng trưởng”. Tuy nhiên, bà Hương cho biết, cần dữ liệu đủ lớn, chi tiết để phân tích dòng nhập khẩu đi vào đâu, vào tích lũy hay tiêu dùng. Vì vậy, không nên đồng nhất mọi khoản nhập siêu với dấu hiệu suy yếu; cần xem xét mục đích sử dụng và giá trị tạo ra sau nhập khẩu.
Có thể thấy, kỷ lục về kim ngạch hai chiều hơn 770 tỷ USD sau 8 tháng năm 2026 là dấu mốc đáng ghi nhận, song cũng đặt ra yêu cầu lớn hơn đối với thương mại Việt Nam: tăng trưởng phải đi cùng sức tự chủ và giá trị gia tăng.
Những tháng cuối năm, trọng tâm không chỉ là tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, mà còn thúc đẩy liên kết doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI, phát triển công nghiệp hỗ trợ, đa dạng hóa nguồn cung và tận dụng các FTA. Khi đó, mỗi đồng kim ngạch không chỉ tạo thêm con số, mà còn góp phần nâng sức cạnh tranh và vị thế hàng hóa của Việt Nam trên thị trường toàn cầu.