![]() |
| Hoạt động xuất nhập khẩu ở khu vực cảng Hải Phòng. Ảnh: Thái Bình. |
Nguồn hàng “chảy” mạnh vào sản xuất
Số liệu thống kê sơ bộ mới nhất vừa được Cục Hải quan công bố từ đầu năm đến hết ngày 15/8/2026 đang phác họa một bức tranh kinh tế vĩ mô hết sức sôi động.
Đáng chú ý, tổng kim ngạch nhập khẩu chạm mốc 367,3 tỷ USD, tăng tới 34,7% (tương đương tăng gần 94,6 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2025.
Điều này cho thấy đà phục hồi và sức sống của hoạt động sản xuất trong nước đã được khẳng định một cách thuyết phục.
Dữ liệu thống kê của Cục Hải quan cho thấy phần nào điều đó khi hơn 85% kim ngạch tăng thêm nằm ở các nhóm hàng như máy móc, linh kiện công nghệ và nguyên nhiên liệu phục vụ trực tiếp cho hoạt động gia công, sản xuất hàng xuất khẩu và phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng…
Trong đó, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tiếp tục là trụ cột khi con số nhập khẩu đạt mức kỷ lục 148,75 tỷ USD, tăng đột biến tới 66,84% (tương ứng tăng thêm gần 59,6 tỷ USD) so với cùng kỳ 2025.
Chỉ riêng mặt hàng này đã chiếm hơn 40,5% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.
Ngoài ra, nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng cũng đạt 44,19 tỷ USD (tăng 21,79%). Điều này phần nào dễ hiểu khi hàng loạt công trình hạ tầng quan trọng và quy mô lớn đã và đang được triển khai mạnh mẽ trên phạm vi cả nước.
Bên cạnh đó, sự bứt phá của hai nhóm hàng này cũng phần nào cho thấy các doanh nghiệp đang ráo riết nâng cấp dây chuyền, chủ động nguyên liệu để đón đầu đơn hàng xuất khẩu lớn giai đoạn cao điểm cuối năm.
Đây là những tín hiệu tích cực, báo hiệu các kỷ lục xuất khẩu mới sắp sửa được thiết lập.
Theo TS. Lê Quốc Phương, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công Thương), hiện nay nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn với hoạt động gia công, sản xuất xuất khẩu là chủ yếu nên phần lớn kim ngạch nhập khẩu cũng là tư liệu phục vụ sản xuất.
Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng chiếm tỷ trọng rất nhỏ trọng tồng kim ngạch nhập khẩu.
Thực tế, theo dữ liệu thống kê của Cục Hải quan, Việt Nam không chỉ nhập khẩu linh kiện điện tử; hàng hóa phục vụ công nghiệp chế biến, chế tạo như dệt may, giày dép…; mà nước ta còn nhập khẩu lượng lớn nguyên liệu cho lĩnh vực nông nghiệp.
Đơn cử như, từ đầu năm đến 15/8, cả nước đã chi tới hàng tỷ USD nhập khẩu hàng thủy sản, ngô, đậu tương, gỗ… đây chính là nguồn nguyên liệu đầu vào quan trọng vừa phục sản xuất hàng tiêu dùng trong nước, vừa phục vụ cho các lĩnh vực xuất khẩu chủ chốt của ngành nông nghiệp.
![]() |
| Dệt may là ngành hàng xuất khẩu lớn hàng đầu Việt Nam, nhưng cũng phụ thuộc nhiều vào nguyên, phụ liệu nhập khẩu. Ảnh: Thái Bình. |
Hạt nhân từ doanh nghiệp FDI
Một điểm tựa quan trọng tiếp tục được ghi nhận là vai trò chủ lực của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Với kim ngạch nhập khẩu đạt 268,9 tỷ USD (tăng 39,27% so với cùng kỳ 2025 và chiếm tới 73,21% tổng kim ngạch toàn quốc), khối FDI chứng tỏ chuỗi cung ứng toàn cầu đặt tại Việt Nam vẫn đang vận hành nhịp nhàng và sôi động.
Ở khía cạnh vật tư cơ bản và năng lượng, hoạt động nhập khẩu cũng phản ánh phần nào chu kỳ tăng trưởng sản xuất.
Từ đầu năm đến 15/8, cả nước chi tới 7,62 tỷ USD nhập khẩu xăng dầu các loại, tăng vọt tới trên 72% so với cùng kỳ năm ngoái. Cùng với đó nhập khẩu than cũng vượt mốc 6 tỷ USD, tăng 34,1%.
Các nhóm hàng nhập khẩu lớn có kim ngạch tăng cao còn phải kể đến hóa chất với 6,31 tỷ USD, tăng 27,8%; sản phẩm từ sắt thép đạt hơn 6 tỷ USD, tăng 24,61%; sản phẩm chất dẻo với 7,47 tỷ USD, tăng 16,17%...
Những con số biết nói nêu trên cho thấy nguồn năng lượng và vật tư đang được bơm liên tục vào các nhà máy sản xuất, đảm bảo hạ tầng điện cũng như nguyên liệu đầu vào không bị đứt gãy.
Chủ động kiểm soát và tối ưu hóa chuỗi cung ứng
Mặc dù quy mô nhập khẩu tăng nhanh là minh chứng cho nội lực kinh tế đang rất sôi động, song từ góc độ quản lý và chính sách thương mại, đà tăng trưởng mạnh mẽ này cũng đặt ra những yêu cầu cấp thiết.
Đối với cơ quan Hải quan, khi lưu lượng hàng hóa nhập khẩu tăng mạnh hơn 34%, cùng với xuất khẩu cũng tăng trưởng cao hai con số là áp lực lớn lên các cửa khẩu, cảng biển và hệ thống thông quan tự động.
Điều này đòi hỏi cơ quan Hải quan và lực lượng chức năng cần tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính; tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng ở cảng biển, cửa khẩu, hệ thống logistics… để rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí lưu kho bãi và quan trọng hơn là nhanh chóng đưa hàng hóa vào các nhà máy sản xuất.
Mặt khác, việc phụ thuộc lớn vào linh kiện, nguyên phụ liệu nhập khẩu (đặc biệt là khối FDI chiếm trên 73%) cũng đòi hỏi Việt Nam phải đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ trong nước và cần có giải pháp mạnh mẽ để doanh nghiệp Việt Nam từng bước gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, giữ lại nhiều giá trị gia tăng hơn.