![]() |
| Một số nhóm hàng xuất khẩu của Hà Nội tiếp tục giữ vai trò chủ lực, trong đó có máy vi tính, hàng điện tử và linh kiện. Ảnh: Tư liệu. |
Xuất khẩu giữ nhịp tăng, nhập khẩu tiếp sức sản xuất
Bức tranh xuất nhập khẩu hàng hóa của TP. Hà Nội sau 8 tháng năm 2026 cho thấy, nhu cầu đầu vào của nền kinh tế tăng nhanh, trong khi xuất khẩu phục hồi.
Theo Thống kê TP. Hà Nội, tháng 8/2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Hà Nội ước đạt 2,13 tỷ USD, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 13,6% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt gần 1,13 tỷ USD, tăng 10,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 1 tỷ USD, tăng 17,4%.
Tính chung 8 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của TP. Hà Nội đạt 14,89 tỷ USD, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt gần 8,1 tỷ USD, tăng 0,6%; khu vực FDI đạt 6,84 tỷ USD, tăng 18,3%. Khu vực FDI tiếp tục đóng góp quan trọng vào tăng trưởng xuất khẩu, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp trong nước.
Ở các nhóm hàng chủ lực, máy vi tính, hàng điện tử và linh kiện, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,26 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm trước; máy móc, thiết bị và phụ tùng đạt 2,14 tỷ USD, tăng 1,2%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt hơn 2 tỷ USD, tăng 7,3%. Hàng nông sản đạt 1,25 tỷ USD, tăng 21,8%; giày dép và sản phẩm từ da đạt 314 triệu USD, tăng 5,7%; thủy tinh và sản phẩm từ thủy tinh đạt 251 triệu USD, tăng 14,3% so với cùng kỳ.
Tuy nhiên, xuất khẩu Hà Nội vẫn đối mặt với sự phân hóa giữa các nhóm hàng. Dệt may kim ngạch đạt 1,53 tỷ USD, giảm 3,7% so với cùng kỳ; gỗ và các sản phẩm từ gỗ đạt 481 triệu USD, giảm 12,3%; điện thoại và linh kiện đạt 42 triệu USD, giảm 65,5%. Sự phân hóa này phản ánh sức ép thị trường quốc tế và yêu cầu nâng khả năng thích ứng của doanh nghiệp.
Ở chiều nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu trong 8 tháng năm 2026 đạt 42,66 tỷ USD, tăng 41% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt gần 35,5 tỷ USD, tăng 43,6%; khu vực FDI đạt 7,162 tỷ USD, tăng 29,3%. Máy móc, thiết bị và phụ tùng đạt 8,78 tỷ USD, tăng 44,9%; xăng dầu hơn 5,4 tỷ USD, tăng 96%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 4,37 tỷ USD, tăng 77,4%; máy vi tính, hàng điện tử và linh kiện gần 3,1 tỷ USD, tăng 36,4% so với cùng kỳ.
![]() |
| Theo ông Phạm Hoài Nam, mức tăng nhập khẩu cao hơn đáng kể so với xuất khẩu cho thấy, Hà Nội cần tiếp tục thúc đẩy năng lực sản xuất trong nước, nâng tỷ lệ giá trị gia tăng và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. |
Ông Phạm Hoài Nam, Trưởng Thống kê TP. Hà Nội cho rằng, nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải và nguyên liệu tăng mạnh có thể xem là tín hiệu cho thấy hoạt động sản xuất, đầu tư và nhu cầu đầu vào của doanh nghiệp đang được mở rộng.
Tuy nhiên, ông Phạm Hoài Nam lưu ý, mức tăng nhập khẩu cao hơn đáng kể so với xuất khẩu cho thấy, Hà Nội cần tiếp tục thúc đẩy năng lực sản xuất trong nước, nâng tỷ lệ giá trị gia tăng và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Vì vậy, tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu cần được chuyển hóa thành năng lực sản xuất, sản phẩm giá trị cao và sức cạnh tranh tốt hơn.
Điều quan trọng là nhìn nhập khẩu trong quan hệ với khả năng hấp thụ. Nếu máy móc, thiết bị và nguyên liệu đi nhanh vào sản xuất, tạo thêm sản lượng và giá trị gia tăng, nhập khẩu cao sẽ trở thành một phần của quá trình mở rộng năng lực tăng trưởng, thay vì chỉ làm tăng kim ngạch thương mại hàng hóa.
Tăng tốc cuối năm, mở rộng không gian xuất khẩu
Nếu kết quả 8 tháng tạo nền tảng thì 4 tháng cuối năm là chặng nước rút quyết định. Theo kế hoạch, Hà Nội đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu năm 2026 đạt khoảng 23,3 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước.
Với kim ngạch xuất khẩu 14,89 tỷ USD đã thực hiện trong 8 tháng, Thành phố còn cần khoảng 8,41 tỷ USD trong 4 tháng còn lại, bình quân gần 2,1 tỷ USD mỗi tháng. Đây là yêu cầu cao khi chi phí năng lượng, nguyên vật liệu, logistics và vận tải quốc tế còn lớn, thương mại toàn cầu tiếp tục biến động.
Theo ông Nguyễn Thế Hiệp, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP. Hà Nội, doanh nghiệp Thủ đô vẫn đối mặt với chi phí logistics tăng, yêu cầu về phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm xã hội và sự phụ thuộc tương đối lớn vào thị trường truyền thống. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế về vốn, công nghệ, marketing quốc tế và khả năng tận dụng hiệu quả các FTA thế hệ mới.
Từ thực tế đó, Hà Nội cần chuyển mạnh từ xúc tiến thương mại dàn trải sang xúc tiến “chọn lọc”, tập trung theo từng ngành hàng, thị trường, nhà mua hàng và đơn hàng cụ thể.
Các giải pháp trọng tâm gồm: khôi phục đơn hàng ngành gỗ tại Hoa Kỳ và Nhật Bản; tháo gỡ khó khăn cho dệt may, da giày qua kết nối với các chuỗi bán lẻ toàn cầu; thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ và điện tử tại EU, Trung Quốc và ASEAN; mở rộng thị trường cho nông sản, sản phẩm OCOP, làng nghề sang ASEAN, EU, Trung Đông; đồng thời phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới thành kênh xuất khẩu chiến lược.
Bên cạnh đó, Thành phố tiếp tục khai thác các thị trường truyền thống như: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và ASEAN, đồng thời mở rộng sang Trung Đông, Nam Á, châu Phi và Mỹ Latinh; tận dụng các FTA thế hệ mới.
Kế hoạch số 229/KH-UBND ngày 15/6/2026 của Thành phố về đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa giai đoạn 2026-2030 xác định, Hà Nội phấn đấu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu từ 12%/năm trở lên, nâng tỷ trọng sản phẩm công nghệ cao lên trên 50% tổng giá trị xuất khẩu vào năm 2030.
Trong mối liên hệ với mục tiêu GRDP tăng trưởng hai con số của TP. Hà Nội, ý nghĩa của xuất nhập khẩu càng rõ. Xuất khẩu tạo đầu ra, mở rộng thị trường và thúc đẩy sản xuất; trong khi, nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên liệu tạo thêm năng lực đầu vào. Do đó, yêu cầu những tháng cuối năm là giữ nhịp xuất khẩu, khai thác dư địa thị trường và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nhập khẩu.
Với nền tảng tăng trưởng sau 8 tháng, Hà Nội đang có cơ sở để tăng tốc trong chặng cuối năm. Tuy nhiên, để xuất nhập khẩu thực sự trở thành động lực cho mục tiêu GRDP tăng hai con số, Thành phố không chỉ cần mở rộng kim ngạch mà quan trọng hơn là nâng cao khả năng hấp thụ nguồn lực, gia tăng giá trị và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Khi nhập khẩu được chuyển hóa thành năng lực sản xuất, còn xuất khẩu tạo ra những thị trường và giá trị mới, thương mại sẽ trở thành động lực cho tăng trưởng nhanh, bền vững của nền kinh tế Thủ đô.