Thứ sáu 23/10/2026 19:05
Thời tiết: Hà Nội 29°C
Đà Nẵng 28°C
Cà Mau 25°C
Hải Phòng 29°C
TP Hồ Chí Minh 27°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa

Doanh nghiệp cần lập một bộ hồ sơ chuẩn để tránh bị "kẹt" ngay trước cửa khẩu

Thái Hằng (Thực hiện)
Tại Quyết định BPJPH số 4/2026, Indonesia thắt chặt việc kiểm soát sản phẩm halal nhập khẩu từ nước ngoài. Theo chuyên gia, ThS. La Quí Dương, Khoa Kinh doanh và Logistics, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, đây không chỉ là thêm một thủ tục, mà là phép thử đối với năng lực chuẩn hóa và kiểm soát chuỗi cung ứng của doanh nghiệp Việt Nam.
Doanh nghiệp cần lập một bộ hồ sơ chuẩn để tránh bị
Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI.

Phóng viên: Indonesia thắt chặt kiểm soát sản phẩm halal nhập khẩu từ nước ngoài, trong đó yêu cầu kiểm tra sự phù hợp của sản phẩm halal ngay tại nước xếp hàng hoặc nước xuất xứ trước khi hàng được vận chuyển. Ông nghĩ sao về sự thay đổi này?

ThS. La Quí Dương: Indonesia đang chuyển từ cách tiếp cận có chứng nhận hay không sang hàng thực tế có đúng với toàn bộ hồ sơ và trạng thái halal đã khai báo hay không. Đây là thay đổi mà doanh nghiệp xuất khẩu không nên xem nhẹ.

Doanh nghiệp cần lập một bộ hồ sơ chuẩn để tránh bị

Trong giai đoạn đầu, nguy cơ phát sinh thời gian chờ và chi phí tuân thủ là điều doanh nghiệp cần phải tính trước. Đáng chú ý, các nhóm hàng Việt Nam như: bánh kẹo, sản phẩm ngũ cốc, rau quả chế biến và thủy sản chế biến đều có đặc điểm nhiều mã hàng, nhiều quy cách và chuỗi nguyên liệu tương đối phức tạp. Với những doanh nghiệp có chuỗi cung ứng nhiều tầng, mỗi lần thay đổi nguyên liệu, quy cách đóng gói hoặc mã sản phẩm đều có thể kéo theo yêu cầu rà soát lại dữ liệu.

ThS. La Quí Dương

Trước đây, doanh nghiệp xuất khẩu thường hình dung yêu cầu halal chủ yếu ở khâu chứng nhận và nhãn hàng hóa. Giờ đây, phạm vi kiểm soát được kéo dài ra trước thời điểm hàng rời nước xuất khẩu.

Từ thực tiễn kinh doanh xuyên biên giới, điều này rất quan trọng. Một lô hàng có thể sản xuất đúng, có chứng nhận đúng, nhưng nếu dữ liệu trên hóa đơn, danh sách đóng gói, bao bì hoặc mã HS không thống nhất, doanh nghiệp vẫn có nguy cơ gặp trở ngại.

Điểm đáng chú ý là việc kiểm tra không chỉ nhìn vào giấy tờ. Cơ quan kiểm định được BPJPH (Cơ quan Tổ chức Đảm bảo Sản phẩm Halal trực thuộc Bộ Tôn giáo Indonesia) chỉ định phải đối chiếu hồ sơ với tình trạng thực tế của hàng hóa tại kho xếp hàng. Nội dung kiểm tra bao gồm loại sản phẩm, số chứng nhận hoặc đăng ký halal, mã HS, số lượng, mã sản xuất, ngày sản xuất, đơn vị tính và thông tin trên bao bì.

Phóng viên: Quy định mới của Indonesia sẽ tạo ra những thay đổi gì đối với hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam, từ khâu chuẩn bị hồ sơ, kiểm tra hàng hóa đến chi phí, thời gian giao hàng và sức cạnh tranh tại thị trường này?

ThS. La Quí Dương: Tôi cho rằng, tác động rõ nhất sẽ tập trung ở dữ liệu, thời gian kiểm tra và chi phí tuân thủ. Đây không đơn thuần là câu chuyện bổ sung một thủ tục halal, mà là yêu cầu doanh nghiệp phải kiểm soát chặt hơn toàn bộ quá trình trước khi hàng rời Việt Nam.

Trước hết là sự đồng bộ của dữ liệu. Doanh nghiệp phải chuẩn bị danh sách hàng hóa nhập khẩu kèm mã HS, chứng nhận hoặc số đăng ký halal, hóa đơn, danh sách đơn hàng và các thông tin liên quan đến sản phẩm. Phía nhập khẩu Indonesia cũng phải đáp ứng các yêu cầu về NIB, mã số thuế và hồ sơ liên quan. Quan trọng hơn, những thông tin này phải thống nhất với hàng hóa thực tế.

Điểm đáng lưu ý là việc kiểm tra được thực hiện trực tiếp tại kho xếp hàng trước khi vận chuyển. Vì vậy, nếu doanh nghiệp chỉ rà soát hồ sơ khi hàng đã sẵn sàng ra cảng thì có thể đã quá muộn. Một sai lệch về mã sản phẩm, số lượng, ngày sản xuất, mã HS hay thông tin trên bao bì đều có thể khiến lô hàng phải xử lý lại.

Cùng với đó là chi phí và thời gian tuân thủ. Doanh nghiệp cũng cần lựa chọn cơ quan kiểm định do BPJPH chỉ định, thanh toán phí và phối hợp cung cấp thông tin về thời gian kiểm tra. Theo quy định, sau khi thanh toán, nhà nhập khẩu hoặc nhà xuất khẩu phải cung cấp thông tin về thời gian thực hiện trong tối đa 30 ngày. Cơ quan kiểm định thực hiện việc đảm bảo trong tối đa 15 ngày kể từ khi nhận được thông tin và có thể xin gia hạn thêm tối đa 15 ngày nếu cần.

Điều này khiến yêu cầu halal gắn chặt hơn với logistics và thông quan. Báo cáo đảm bảo sản phẩm halal chỉ có giá trị cho một chuyến hàng hoặc một lần nhập khẩu theo dữ liệu trong báo cáo và được sử dụng trong hồ sơ khai báo hải quan, với dữ liệu được trao đổi điện tử với Hệ thống một cửa quốc gia Indonesia.

Trong giai đoạn đầu, nguy cơ phát sinh thời gian chờ và chi phí tuân thủ là điều doanh nghiệp cần phải tính trước. Đáng chú ý, các nhóm hàng Việt Nam như: bánh kẹo, sản phẩm ngũ cốc, rau quả chế biến và thủy sản chế biến đều có đặc điểm nhiều mã hàng, nhiều quy cách và chuỗi nguyên liệu tương đối phức tạp. Với những doanh nghiệp có chuỗi cung ứng nhiều tầng, mỗi lần thay đổi nguyên liệu, quy cách đóng gói hoặc mã sản phẩm đều có thể kéo theo yêu cầu rà soát lại dữ liệu.

Tuy nhiên, doanh nghiệp kiểm soát tốt dữ liệu, hồ sơ và quy trình nội bộ sẽ có lợi thế; doanh nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào xử lý thủ công sẽ dễ phát sinh sai sót và chi phí hơn. Nói ngắn gọn, thách thức lớn nhất không nằm ở một tờ giấy halal riêng lẻ, mà ở khả năng bảo đảm hàng hóa, chứng từ và dữ liệu luôn thống nhất từ nhà máy đến kho xếp hàng, từ hồ sơ kiểm định đến thủ tục thông quan. Khi làm được điều đó, doanh nghiệp không chỉ giảm nguy cơ chậm giao hàng tại Indonesia mà còn nâng được năng lực đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng cao của thương mại xuyên biên giới.

Phóng viên: Vậy theo ông, doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì ngay từ bây giờ để tránh bị động?

ThS. La Quí Dương: Tôi cho rằng, doanh nghiệp nên làm việc sớm với nhà nhập khẩu Indonesia để xác định chính xác sản phẩm nào thuộc diện phải chứng nhận halal, sản phẩm nào thuộc trường hợp được miễn và phải ghi thông tin không halal.

Quy định Indonesia nêu rõ các sản phẩm nhập khẩu, lưu thông và kinh doanh trên lãnh thổ nước này phải được chứng nhận halal; sản phẩm có nguồn gốc từ nguyên liệu bị cấm được miễn chứng nhận nhưng phải có thông tin “Không phải Halal”.

Tiếp đó, doanh nghiệp cần lập một bộ hồ sơ chuẩn cho từng nhóm sản phẩm. Trong đó, mã HS, tên hàng, mã sản phẩm, số lượng, ngày sản xuất, hóa đơn, packing list, chứng nhận halal và thông tin trên bao bì phải được kiểm tra chéo trước khi hàng được đóng và đưa đi.

Tôi khuyến nghị doanh nghiệp nên thống nhất một đầu mối chịu trách nhiệm về hồ sơ halal cho từng lô hàng. Không nên để bộ phận xuất khẩu, kế toán, kho, sản xuất và đối tác Indonesia sử dụng những bộ dữ liệu khác nhau.

Một việc quan trọng nữa là cần chủ động cùng nhà nhập khẩu lựa chọn cơ quan kiểm định phù hợp do BPJPH chỉ định. Theo quy định, nhà nhập khẩu là bên nộp hồ sơ và lựa chọn cơ quan kiểm định; cơ quan này sẽ xác minh hồ sơ trước khi triển khai kiểm tra.

Từ kinh nghiệm quan sát hoạt động xuất khẩu, tôi thấy những doanh nghiệp vượt qua được các thay đổi chính sách thường không phải là doanh nghiệp lớn nhất, mà là doanh nghiệp chuẩn bị sớm nhất.

Khi hồ sơ chuẩn, dữ liệu sạch và hàng hóa khớp với chứng từ, một thủ tục kiểm soát chặt hơn vẫn có thể được biến thành một quy trình vận hành có thể dự đoán và kiểm soát.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu cho ngành dệt may

Nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu cho ngành dệt may

Chín tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 35,72 tỷ USD, tăng 3,3% so với cùng kỳ, song tăng trưởng giữa các nhóm hàng còn phân hóa. Trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng cao, đơn hàng chưa đồng đều và yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe, nâng năng suất, chủ động nguồn cung và cải thiện hiệu quả sản xuất là những điều kiện quan trọng để ngành dệt may duy trì đà tăng trưởng. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế - Tài chính, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), phân tích sâu hơn về triển vọng cuối năm, nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu.
Nhập khẩu tăng mạnh có thể cán mốc 600 tỷ USD

Nhập khẩu tăng mạnh có thể cán mốc 600 tỷ USD

Đến ngày 15/10/2026, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 481,37 tỷ USD, tăng 37,2% so với cùng kỳ năm 2025. Động lực đến từ máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, cùng máy móc, thiết bị và nhiều nhóm nguyên liệu. Đà tăng này mở ra khả năng nhập khẩu cả năm vượt 600 tỷ USD, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng đầu vào và giá trị gia tăng trong nước.
Phòng vệ thương mại quý III/2026: Giữ thị trường bằng năng lực ứng phó

Phòng vệ thương mại quý III/2026: Giữ thị trường bằng năng lực ứng phó

Các vụ điều tra mới, rà soát và áp thuế phòng vệ thương mại trong quý III/2026 tiếp tục đặt doanh nghiệp xuất khẩu hàng Việt Nam trước yêu cầu nâng cao năng lực ứng phó. Đồng thời, việc sử dụng công cụ phòng vệ tại thị trường nội địa cho thấy bảo vệ sản xuất phải gắn với hồ sơ đầy đủ, dữ liệu minh bạch và khả năng cạnh tranh thực chất.
Đa dạng kênh phân phối, tạo đà cho hàng Việt vươn xa

Đa dạng kênh phân phối, tạo đà cho hàng Việt vươn xa

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động, phát triển thị trường đa kênh trở thành yêu cầu cấp thiết với doanh nghiệp Việt Nam. Hội thảo do Cục Xúc tiến Thương mại tổ chức tạo diễn đàn trao đổi giải pháp, kết nối nguồn lực, củng cố đầu ra, giúp hàng hóa Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế.
Xuất khẩu hạt tiêu tăng giữa áp lực giảm giá

Xuất khẩu hạt tiêu tăng giữa áp lực giảm giá

Xuất khẩu hạt tiêu Việt Nam duy trì đà tăng trưởng nhờ lượng hàng xuất khẩu gia tăng, trong khi giá bình quân vẫn thấp hơn cùng kỳ năm trước. Áp lực giảm giá đặt ra yêu cầu nâng chất lượng, đẩy mạnh chế biến sâu và mở rộng thị trường để giữ đà tăng trưởng, cải thiện giá trị xuất khẩu.
Bài 3: Làm gì để kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2026 vượt mốc 1.000 tỷ USD

Bài 3: Làm gì để kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2026 vượt mốc 1.000 tỷ USD

Trong chặng nước rút hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số, xuất khẩu cần chuyển từ tăng trưởng về quy mô sang nâng cao chất lượng và hiệu quả. Tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, logistics, thị trường, đồng thời củng cố năng lực doanh nghiệp trong nước và gia tăng giá trị nội địa là yêu cầu then chốt để xuất khẩu bứt tốc, đóng góp bền vững cho nền kinh tế.
Nhập khẩu ô tô vượt 203.000 chiếc, nguồn cung chủ lực có sự dịch chuyển

Nhập khẩu ô tô vượt 203.000 chiếc, nguồn cung chủ lực có sự dịch chuyển

Từ đầu năm đến ngày 15/10/2026, Việt Nam nhập khẩu 203.600 ô tô nguyên chiếc, kim ngạch gần 4,7 tỷ USD, tăng 24,5% về lượng và 29,2% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, thị trường Trung Quốc vươn lên vị trí thứ hai về số lượng và giữ ưu thế về kim ngạch.
Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam còn lớn

Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam còn lớn

Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam hiện nay còn lớn, nhưng khả năng khai thác phụ thuộc vào năng lực cung ứng sản phẩm đạt chuẩn và đáp ứng yêu cầu xanh. Làm chủ vật liệu, liên kết sản xuất và xây dựng dữ liệu phát thải đang trở thành những nhiệm vụ gắn trực tiếp với sức cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu cơ khí trên thị trường quốc tế.
Ngành dệt may tăng tốc chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh

Ngành dệt may tăng tốc chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh

Trước sức ép cạnh tranh toàn cầu, chuyển đổi số trở thành yêu cầu cấp thiết với ngành dệt may Việt Nam, Hội thảo của VITAS tại HanoiTex - HanoiFabric 2026 gợi mở giải pháp từ đổi mới công nghệ đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong sản xuất, kinh doanh, giúp doanh nghiệp nâng năng suất, thích ứng thị trường và tăng sức cạnh tranh xuất khẩu.
Thương mại Việt Nam - Singapore chạm mốc 33,5 tỷ USD

Thương mại Việt Nam - Singapore chạm mốc 33,5 tỷ USD

Chín tháng năm 2026, thương mại hai chiều Việt Nam - Singapore đạt gần 42,8 tỷ SGD (tương đương khoảng 33,5 tỷ USD), tăng 46,8% so với cùng kỳ. Đà tăng trưởng cho thấy giao thương giữa hai nước tiếp tục mở rộng, đồng thời tạo thêm cơ hội để hàng hóa Việt Nam nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng và mạng lưới phân phối khu vực.
Thương mại điện tử Đông Nam Á vượt 200 tỷ USD, hàng Việt đón sóng lớn

Thương mại điện tử Đông Nam Á vượt 200 tỷ USD, hàng Việt đón sóng lớn

Thị trường thương mại điện tử (TMĐT) Đông Nam Á đang mở rộng, với doanh số vượt 200 tỷ USD và dòng chi tiêu hàng ngoại lên tới 23-24 tỷ USD. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, đây là cơ hội để mở rộng kênh bán hàng và tiếp cận người tiêu dùng khu vực. Khả năng tận dụng cơ hội phụ thuộc vào việc lựa chọn mô hình kinh doanh phù hợp, đáp ứng yêu cầu thị trường và duy trì chất lượng sản phẩm.
Bài 2: Nhập siêu tăng mạnh và bài toán nâng giá trị gia tăng nội địa

Bài 2: Nhập siêu tăng mạnh và bài toán nâng giá trị gia tăng nội địa

Sau 9 tháng liên tiếp nhập siêu, cán cân thương mại hàng hóa tháng 9/2026 đã xuất siêu trở lại 1,27 tỷ USD. Đây là tín hiệu tích cực trong chặng nước rút cuối năm, song chưa làm thay đổi hoàn toàn bức tranh thương mại khi tính chung 9 tháng, Việt Nam vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD và nhập khẩu tiếp tục tăng nhanh hơn xuất khẩu. Vấn đề cần quan tâm không chỉ là trạng thái của cán cân thương mại, mà còn là khả năng chuyển hóa dòng hàng đầu vào phục vụ sản xuất và yêu cầu về nâng cao năng lực cung ứng nội địa để đạt được giá trị gia tăng cao hơn.
Chuyển đổi xanh giúp doanh nghiệp cơ khí tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Chuyển đổi xanh giúp doanh nghiệp cơ khí tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Chuyển đổi xanh không còn là xu hướng khuyến khích mà đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với doanh nghiệp cơ khí - điện, khi các tiêu chuẩn về môi trường, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm trong chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng khắt khe.
Xuất khẩu sang Singapore theo quy trình chứng nhận nhập khẩu mới

Xuất khẩu sang Singapore theo quy trình chứng nhận nhập khẩu mới

Trong bối cảnh xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore tăng trưởng mạnh, việc Hải quan Singapore cập nhật quy trình Chứng nhận nhập khẩu và Xác minh giao hàng (ICDV) đặt ra yêu cầu doanh nghiệp chủ động kiểm soát chứng từ, phối hợp với đối tác và tuân thủ thời hạn xử lý hồ sơ. Đây là yếu tố quan trọng nhằm hạn chế nguy cơ chậm thông quan, phát sinh chi phí và bảo đảm hoạt động xuất khẩu thông suốt.
Bài 1: Xuất khẩu bứt phá trong một thế giới đầy biến động

Bài 1: Xuất khẩu bứt phá trong một thế giới đầy biến động

Năm 2026, năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, xuất khẩu tiếp tục là một trong những động lực quan trọng góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số. Sau ba phần tư chặng đường, đà tăng trưởng thương mại tạo tiền đề cho những tháng cuối năm, đồng thời đặt ra yêu cầu nhìn nhận thấu đáo chất lượng tăng trưởng và khả năng đóng góp của xuất khẩu đối với nền kinh tế. Bước vào chặng nước rút, việc phát huy lợi thế các ngành hàng chủ lực, khai thác dư địa thị trường và tháo gỡ điểm nghẽn cần gắn với nâng cao năng lực sản xuất trong nước, gia tăng giá trị hàng hóa và chủ động thích ứng với yêu cầu của thị trường quốc tế; qua đó tạo cơ sở để chuyển hóa đà tăng trưởng thương mại thành nguồn lực củng cố nội lực và sức tự chủ của nền kinh tế.