![]() |
| Ảnh minh họa. |
Phóng viên: Dự thảo Thông tư lần này được đánh giá là có nhiều thay đổi so với Thông tư số 39/2018/TT-BCT. Theo ông, đâu là thay đổi đáng chú ý nhất?
TS Khúc Đại Long: Điểm nổi bật của dự thảo lần này là xu hướng quy định cụ thể hơn trách nhiệm kiểm tra, xác minh xuất xứ trong bối cảnh hoạt động xuất khẩu ngày càng phức tạp và chịu sức ép lớn từ thị trường quốc tế.
|
Thực tế giai đoạn 2019 - 2024 cho thấy, công tác kiểm tra xuất xứ đã được triển khai với tần suất khá cao. Theo báo cáo tổng kết thi hành Thông tư số 39/2018/TT-BCT, có hơn 6.000 bộ C/O được kiểm tra theo đề nghị của cơ quan Hải quan nước ngoài và trên 50.000 bộ C/O được rà soát để phục vụ quản lý rủi ro, chống gian lận xuất xứ. Cùng với đó, nhiều trường hợp vi phạm cũng đã bị phát hiện và xử lý. Điều này cho thấy áp lực quản lý trong lĩnh vực xuất xứ hàng hóa đang ngày càng lớn.
So với trước đây, dự thảo mới phân tách rõ hơn giữa hoạt động kiểm tra hồ sơ và xác minh trực tiếp tại cơ sở sản xuất. Nếu như các quy định hiện hành còn khái quát thì tại dự thảo nhiều tình huống đã được cụ thể hóa chi tiết hơn, từ việc kiểm tra tính hợp lệ của C/O, đối chiếu nguyên liệu đầu vào, quy trình sản xuất đến rà soát mã HS và tỷ lệ chuyển đổi mã số hàng hóa.
Theo tôi, cách tiếp cận này sát thực tế hơn nhiều. Bởi hiện nay, việc xác định xuất xứ không chỉ dừng ở hồ sơ giấy tờ. Nhiều thị trường nhập khẩu đang kiểm tra rất kỹ năng lực sản xuất thực tế, khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ cũng như tính minh bạch trong chuỗi cung ứng của doanh nghiệp xuất khẩu.
Phóng viên: Dự thảo lần này dành nhiều nội dung cho việc kiểm tra rủi ro và ngăn chặn gian lận xuất xứ. Theo ông, đâu là áp lực khiến cơ quan quản lý phải siết chặt hơn vấn đề này?
TS Khúc Đại Long: Bối cảnh thương mại toàn cầu đã thay đổi rất nhanh trong vài năm gần đây. Khi các hiệp định thương mại tự do mở rộng, ưu đãi thuế quan lớn hơn thì nguy cơ lợi dụng xuất xứ cũng tăng theo.
Báo cáo tổng kết thi hành Thông tư số 39/2018/TT-BCT cho thấy, cơ chế kiểm tra hiện nay đã góp phần “ngăn chặn hành vi khai sai xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế”. Tuy nhiên, thực tế triển khai cũng cho thấy vẫn còn không ít khoảng trống trong công tác quản lý và dự thảo lần này đang hướng tới việc hoàn thiện những điểm còn thiếu đó.
Có thể thấy rõ điều này qua việc dự thảo bổ sung thêm nhiều tình huống kiểm tra cụ thể. Chẳng hạn, trường hợp doanh nghiệp kê khai nguyên liệu nhập khẩu nhưng không cung cấp đủ chứng từ chứng minh xuất xứ; hoặc nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra có cùng mã HS ở cấp độ 2 số, 4 số hay 6 số nhưng không đáp ứng yêu cầu về chuyển đổi mã số hàng hóa. Những quy định chi tiết hơn cho thấy, cơ quan quản lý đang muốn chuyển sang cách kiểm tra có trọng tâm, tập trung vào các dấu hiệu rủi ro thay vì kiểm tra dàn trải như trước.
Dù vậy, điều doanh nghiệp quan tâm nhất vẫn là tính minh bạch trong quá trình thực thi. Các tiêu chí đánh giá rủi ro cần đủ rõ ràng để doanh nghiệp có thể chủ động chuẩn bị và tuân thủ. Nếu khái niệm “nghi ngờ gian lận” còn quá rộng hoặc cách áp dụng giữa các địa phương thiếu thống nhất, doanh nghiệp sẽ rất khó xoay xở trong quá trình xuất khẩu.
Phóng viên: Một nội dung được nhiều doanh nghiệp chú ý, đó là dự thảo bỏ nội dung “tiền kiểm” trước khi cấp C/O, ông nghĩ sao về sự thay đổi này?
TS Khúc Đại Long: Theo tôi, đây là một điều chỉnh đáng chú ý và mang nhiều tín hiệu tích cực. Điểm thay đổi lớn nằm ở việc cơ quan soạn thảo định hướng tách riêng giữa khâu cấp C/O và hoạt động kiểm tra sau cấp giấy.
Thay vì tập trung nhiều vào “tiền kiểm” như trước, dự thảo đang chuyển dần sang cơ chế hậu kiểm gắn với quản lý rủi ro. Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng cải cách thủ tục hành chính hiện nay, nhất là trong bối cảnh hoạt động xuất khẩu đòi hỏi tốc độ xử lý rất nhanh. Với các ngành như: dệt may, gỗ hay điện tử, chỉ cần quy trình xác minh kéo dài thêm vài ngày cũng có thể ảnh hưởng tới tiến độ giao hàng và chi phí của doanh nghiệp.
Thực tế, nhiều doanh nghiệp không quá e ngại việc bị kiểm tra. Điều họ lo là thủ tục kéo dài, phải giải trình lặp lại hoặc mỗi cơ quan lại yêu cầu một loại hồ sơ khác nhau. Những phát sinh như vậy thường tạo áp lực lớn hơn chính việc kiểm tra.
Khi chuyển trọng tâm sang hậu kiểm, cơ quan quản lý sẽ có điều kiện tập trung nguồn lực vào các trường hợp có dấu hiệu rủi ro cao, thay vì kiểm tra dàn trải. Trong khi đó, các doanh nghiệp tuân thủ tốt cũng có thể giảm bớt áp lực về thủ tục và thời gian chờ đợi.
Tuy nhiên, để cơ chế này vận hành hiệu quả, điều quan trọng là dữ liệu giữa các cơ quan phải được kết nối đồng bộ và quy trình phối hợp cần đủ thông suốt. Nếu thông tin còn phân tán hoặc cách xử lý chưa thống nhất, nguy cơ phát sinh vướng mắc cho doanh nghiệp vẫn sẽ còn.
Phóng viên: Vai trò của cơ quan Hải quan và địa phương đề cập tại dự thảo cũng được mở rộng hơn trong quá trình kiểm tra, xác minh xuất xứ. Sự thay đổi này sẽ tác động thế nào đến công tác quản lý và hoạt động của doanh nghiệp, thưa ông?
TS Khúc Đại Long: Theo tôi, những thay đổi trong dự thảo cho thấy xu hướng phân cấp đang được đẩy mạnh hơn trong công tác quản lý xuất xứ hàng hóa. Khi nhiều địa phương đã trực tiếp tham gia cấp C/O, trách nhiệm kiểm tra, xác minh cũng cần được phân bổ lại thay vì dồn chủ yếu về cơ quan trung ương như trước đây.
Dự thảo lần này đã mở rộng vai trò của cơ quan Hải quan trong hoạt động kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, đồng thời làm rõ hơn cơ chế phối hợp giữa cơ quan cấp C/O, Hải quan và UBND cấp tỉnh trong quá trình rà soát hồ sơ. Đây là điều cần thiết trong bối cảnh dữ liệu về xuất khẩu, nguyên liệu nhập khẩu hay năng lực sản xuất hiện đang nằm rải rác ở nhiều đầu mối khác nhau. Nếu thông tin không được kết nối đồng bộ, việc đánh giá rủi ro xuất xứ sẽ rất khó chính xác.
Tuy nhiên, phân cấp luôn đi kèm áp lực về tính thống nhất trong thực thi. Điều doanh nghiệp lo ngại nhất là tình trạng mỗi nơi áp dụng một cách khác nhau, từ yêu cầu hồ sơ đến cách đánh giá, giải trình. Chỉ cần quy trình thiếu đồng bộ, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp sẽ tăng lên đáng kể. Vì vậy, cùng với việc giao thêm thẩm quyền cho địa phương, cần có hệ thống biểu mẫu, quy trình và hướng dẫn thực hiện thống nhất để tránh phát sinh thêm vướng mắc trong thực tế.
Phóng viên: Theo ông, điều cộng đồng doanh nghiệp mong chờ nhất ở dự thảo Thông tư này là gì?
TS Khúc Đại Long: Theo tôi, điều doanh nghiệp cần nhất lúc này là một cơ chế rõ ràng, ổn định và có thể dự báo được. Bởi trong hoạt động xuất khẩu, chỉ cần một lô hàng bị kéo dài thời gian xác minh, phải giải trình nhiều lần hoặc rơi vào diện nghi ngờ xuất xứ, toàn bộ tiến độ giao hàng phía sau đều có thể bị ảnh hưởng.
Điểm tích cực của dự thảo là đã cố gắng cụ thể hóa quy trình kiểm tra, xác minh. Việc bổ sung các biểu mẫu đi kèm như: quyết định thành lập đoàn công tác, phiếu câu hỏi hay biên bản xác minh tại cơ sở sản xuất sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc chuẩn bị hồ sơ, tài liệu và quy trình phối hợp.
Tuy nhiên, điều cộng đồng doanh nghiệp quan tâm không chỉ nằm ở văn bản, mà còn ở cách thực thi trên thực tế. Các tiêu chí đánh giá rủi ro cần được quy định minh bạch, thời gian phản hồi cần hợp lý, còn yêu cầu cung cấp hồ sơ cũng nên giới hạn đúng phạm vi cần thiết để tránh phát sinh thêm áp lực thủ tục.
Tôi cũng chú ý tới tinh thần của tờ trình dự thảo khi nhấn mạnh yêu cầu “chấm dứt tình trạng thanh tra, kiểm tra chồng chéo, trùng lắp, kéo dài, không cần thiết”. Nếu tinh thần này được thực hiện nhất quán, dự thảo sẽ không chỉ phục vụ mục tiêu chống gian lận xuất xứ, mà còn góp phần tạo ra môi trường xuất khẩu minh bạch, ổn định hơn cho các doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!