Thứ sáu 10/07/2026 19:08
Thời tiết: Hà Nội 30°C
Đà Nẵng 30°C
Cà Mau 28°C
Hải Phòng 28°C
TP Hồ Chí Minh 32°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách / Diễn đàn
aa

Xác minh xuất xứ hàng hóa: Bài toán quản lý rủi ro và chi phí tuân thủ

Thái Hằng (Thực hiện)
So với quy định hiện hành, dự thảo Thông tư về kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa xuất khẩu của Bộ Công Thương đã đề xuất nhiều điểm mới theo hướng tăng cường quản lý rủi ro, bổ sung tiêu chí xác minh cụ thể và phân định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan liên quan. Để hiểu rõ hơn về những đề xuất này, phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính đã có cuộc trao đổi với TS Khúc Đại Long, Phó Trưởng khoa Marketing, Trường Đại học Thương mại.
Xác minh xuất xứ hàng hóa: Bài toán quản lý rủi ro và chi phí tuân thủ
Ảnh minh họa.

Phóng viên: Dự thảo Thông tư lần này được đánh giá là có nhiều thay đổi so với Thông tư số 39/2018/TT-BCT. Theo ông, đâu là thay đổi đáng chú ý nhất?

TS Khúc Đại Long: Điểm nổi bật của dự thảo lần này là xu hướng quy định cụ thể hơn trách nhiệm kiểm tra, xác minh xuất xứ trong bối cảnh hoạt động xuất khẩu ngày càng phức tạp và chịu sức ép lớn từ thị trường quốc tế.

Xác minh xuất xứ hàng hóa: Bài toán quản lý rủi ro và chi phí tuân thủ

Theo tôi, điều doanh nghiệp cần nhất lúc này là một cơ chế rõ ràng, ổn định và có thể dự báo được. Bởi trong hoạt động xuất khẩu, chỉ cần một lô hàng bị kéo dài thời gian xác minh, phải giải trình nhiều lần hoặc rơi vào diện nghi ngờ xuất xứ, toàn bộ tiến độ giao hàng phía sau đều có thể bị ảnh hưởng.

TS Khúc Đại Long

Thực tế giai đoạn 2019 - 2024 cho thấy, công tác kiểm tra xuất xứ đã được triển khai với tần suất khá cao. Theo báo cáo tổng kết thi hành Thông tư số 39/2018/TT-BCT, có hơn 6.000 bộ C/O được kiểm tra theo đề nghị của cơ quan Hải quan nước ngoài và trên 50.000 bộ C/O được rà soát để phục vụ quản lý rủi ro, chống gian lận xuất xứ. Cùng với đó, nhiều trường hợp vi phạm cũng đã bị phát hiện và xử lý. Điều này cho thấy áp lực quản lý trong lĩnh vực xuất xứ hàng hóa đang ngày càng lớn.

So với trước đây, dự thảo mới phân tách rõ hơn giữa hoạt động kiểm tra hồ sơ và xác minh trực tiếp tại cơ sở sản xuất. Nếu như các quy định hiện hành còn khái quát thì tại dự thảo nhiều tình huống đã được cụ thể hóa chi tiết hơn, từ việc kiểm tra tính hợp lệ của C/O, đối chiếu nguyên liệu đầu vào, quy trình sản xuất đến rà soát mã HS và tỷ lệ chuyển đổi mã số hàng hóa.

Theo tôi, cách tiếp cận này sát thực tế hơn nhiều. Bởi hiện nay, việc xác định xuất xứ không chỉ dừng ở hồ sơ giấy tờ. Nhiều thị trường nhập khẩu đang kiểm tra rất kỹ năng lực sản xuất thực tế, khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ cũng như tính minh bạch trong chuỗi cung ứng của doanh nghiệp xuất khẩu.

Phóng viên: Dự thảo lần này dành nhiều nội dung cho việc kiểm tra rủi ro và ngăn chặn gian lận xuất xứ. Theo ông, đâu là áp lực khiến cơ quan quản lý phải siết chặt hơn vấn đề này?

TS Khúc Đại Long: Bối cảnh thương mại toàn cầu đã thay đổi rất nhanh trong vài năm gần đây. Khi các hiệp định thương mại tự do mở rộng, ưu đãi thuế quan lớn hơn thì nguy cơ lợi dụng xuất xứ cũng tăng theo.

Báo cáo tổng kết thi hành Thông tư số 39/2018/TT-BCT cho thấy, cơ chế kiểm tra hiện nay đã góp phần “ngăn chặn hành vi khai sai xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế”. Tuy nhiên, thực tế triển khai cũng cho thấy vẫn còn không ít khoảng trống trong công tác quản lý và dự thảo lần này đang hướng tới việc hoàn thiện những điểm còn thiếu đó.

Có thể thấy rõ điều này qua việc dự thảo bổ sung thêm nhiều tình huống kiểm tra cụ thể. Chẳng hạn, trường hợp doanh nghiệp kê khai nguyên liệu nhập khẩu nhưng không cung cấp đủ chứng từ chứng minh xuất xứ; hoặc nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra có cùng mã HS ở cấp độ 2 số, 4 số hay 6 số nhưng không đáp ứng yêu cầu về chuyển đổi mã số hàng hóa. Những quy định chi tiết hơn cho thấy, cơ quan quản lý đang muốn chuyển sang cách kiểm tra có trọng tâm, tập trung vào các dấu hiệu rủi ro thay vì kiểm tra dàn trải như trước.

Dù vậy, điều doanh nghiệp quan tâm nhất vẫn là tính minh bạch trong quá trình thực thi. Các tiêu chí đánh giá rủi ro cần đủ rõ ràng để doanh nghiệp có thể chủ động chuẩn bị và tuân thủ. Nếu khái niệm “nghi ngờ gian lận” còn quá rộng hoặc cách áp dụng giữa các địa phương thiếu thống nhất, doanh nghiệp sẽ rất khó xoay xở trong quá trình xuất khẩu.

Phóng viên: Một nội dung được nhiều doanh nghiệp chú ý, đó là dự thảo bỏ nội dung “tiền kiểm” trước khi cấp C/O, ông nghĩ sao về sự thay đổi này?

TS Khúc Đại Long: Theo tôi, đây là một điều chỉnh đáng chú ý và mang nhiều tín hiệu tích cực. Điểm thay đổi lớn nằm ở việc cơ quan soạn thảo định hướng tách riêng giữa khâu cấp C/O và hoạt động kiểm tra sau cấp giấy.

Thay vì tập trung nhiều vào “tiền kiểm” như trước, dự thảo đang chuyển dần sang cơ chế hậu kiểm gắn với quản lý rủi ro. Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng cải cách thủ tục hành chính hiện nay, nhất là trong bối cảnh hoạt động xuất khẩu đòi hỏi tốc độ xử lý rất nhanh. Với các ngành như: dệt may, gỗ hay điện tử, chỉ cần quy trình xác minh kéo dài thêm vài ngày cũng có thể ảnh hưởng tới tiến độ giao hàng và chi phí của doanh nghiệp.

Thực tế, nhiều doanh nghiệp không quá e ngại việc bị kiểm tra. Điều họ lo là thủ tục kéo dài, phải giải trình lặp lại hoặc mỗi cơ quan lại yêu cầu một loại hồ sơ khác nhau. Những phát sinh như vậy thường tạo áp lực lớn hơn chính việc kiểm tra.

Khi chuyển trọng tâm sang hậu kiểm, cơ quan quản lý sẽ có điều kiện tập trung nguồn lực vào các trường hợp có dấu hiệu rủi ro cao, thay vì kiểm tra dàn trải. Trong khi đó, các doanh nghiệp tuân thủ tốt cũng có thể giảm bớt áp lực về thủ tục và thời gian chờ đợi.

Tuy nhiên, để cơ chế này vận hành hiệu quả, điều quan trọng là dữ liệu giữa các cơ quan phải được kết nối đồng bộ và quy trình phối hợp cần đủ thông suốt. Nếu thông tin còn phân tán hoặc cách xử lý chưa thống nhất, nguy cơ phát sinh vướng mắc cho doanh nghiệp vẫn sẽ còn.

Phóng viên: Vai trò của cơ quan Hải quan và địa phương đề cập tại dự thảo cũng được mở rộng hơn trong quá trình kiểm tra, xác minh xuất xứ. Sự thay đổi này sẽ tác động thế nào đến công tác quản lý và hoạt động của doanh nghiệp, thưa ông?

TS Khúc Đại Long: Theo tôi, những thay đổi trong dự thảo cho thấy xu hướng phân cấp đang được đẩy mạnh hơn trong công tác quản lý xuất xứ hàng hóa. Khi nhiều địa phương đã trực tiếp tham gia cấp C/O, trách nhiệm kiểm tra, xác minh cũng cần được phân bổ lại thay vì dồn chủ yếu về cơ quan trung ương như trước đây.

Dự thảo lần này đã mở rộng vai trò của cơ quan Hải quan trong hoạt động kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, đồng thời làm rõ hơn cơ chế phối hợp giữa cơ quan cấp C/O, Hải quan và UBND cấp tỉnh trong quá trình rà soát hồ sơ. Đây là điều cần thiết trong bối cảnh dữ liệu về xuất khẩu, nguyên liệu nhập khẩu hay năng lực sản xuất hiện đang nằm rải rác ở nhiều đầu mối khác nhau. Nếu thông tin không được kết nối đồng bộ, việc đánh giá rủi ro xuất xứ sẽ rất khó chính xác.

Tuy nhiên, phân cấp luôn đi kèm áp lực về tính thống nhất trong thực thi. Điều doanh nghiệp lo ngại nhất là tình trạng mỗi nơi áp dụng một cách khác nhau, từ yêu cầu hồ sơ đến cách đánh giá, giải trình. Chỉ cần quy trình thiếu đồng bộ, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp sẽ tăng lên đáng kể. Vì vậy, cùng với việc giao thêm thẩm quyền cho địa phương, cần có hệ thống biểu mẫu, quy trình và hướng dẫn thực hiện thống nhất để tránh phát sinh thêm vướng mắc trong thực tế.

Phóng viên: Theo ông, điều cộng đồng doanh nghiệp mong chờ nhất ở dự thảo Thông tư này là gì?

TS Khúc Đại Long: Theo tôi, điều doanh nghiệp cần nhất lúc này là một cơ chế rõ ràng, ổn định và có thể dự báo được. Bởi trong hoạt động xuất khẩu, chỉ cần một lô hàng bị kéo dài thời gian xác minh, phải giải trình nhiều lần hoặc rơi vào diện nghi ngờ xuất xứ, toàn bộ tiến độ giao hàng phía sau đều có thể bị ảnh hưởng.

Điểm tích cực của dự thảo là đã cố gắng cụ thể hóa quy trình kiểm tra, xác minh. Việc bổ sung các biểu mẫu đi kèm như: quyết định thành lập đoàn công tác, phiếu câu hỏi hay biên bản xác minh tại cơ sở sản xuất sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc chuẩn bị hồ sơ, tài liệu và quy trình phối hợp.

Tuy nhiên, điều cộng đồng doanh nghiệp quan tâm không chỉ nằm ở văn bản, mà còn ở cách thực thi trên thực tế. Các tiêu chí đánh giá rủi ro cần được quy định minh bạch, thời gian phản hồi cần hợp lý, còn yêu cầu cung cấp hồ sơ cũng nên giới hạn đúng phạm vi cần thiết để tránh phát sinh thêm áp lực thủ tục.

Tôi cũng chú ý tới tinh thần của tờ trình dự thảo khi nhấn mạnh yêu cầu “chấm dứt tình trạng thanh tra, kiểm tra chồng chéo, trùng lắp, kéo dài, không cần thiết”. Nếu tinh thần này được thực hiện nhất quán, dự thảo sẽ không chỉ phục vụ mục tiêu chống gian lận xuất xứ, mà còn góp phần tạo ra môi trường xuất khẩu minh bạch, ổn định hơn cho các doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!

Tin bài có thể bạn quan tâm

Doanh nghiệp cần biết quy định mới của EU về mã định danh sản phẩm

Doanh nghiệp cần biết quy định mới của EU về mã định danh sản phẩm

Từ cuối năm 2026, hàng hóa nhập khẩu vào Liên minh châu Âu (EU) sẽ phải có mã định danh sản phẩm (Product Identifier - PID) trên tờ khai hải quan. Đây là bước đi mới trong chiến lược số hóa hải quan và tăng cường truy xuất nguồn gốc của EU, dự báo sẽ tác động trực tiếp đến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính đã trao đổi với ông Dương Tiến Dũng, Chủ tịch Liên đoàn Doanh nghiệp nhỏ và vừa châu Á (ASBF) tại Việt Nam, để làm rõ lộ trình triển khai cũng như những việc doanh nghiệp cần chuẩn bị ngay từ bây giờ.
Cuộc chiến chống gian lận hoàn thuế GTGT: Nhận diện thủ đoạn để bảo vệ ngân sách

Cuộc chiến chống gian lận hoàn thuế GTGT: Nhận diện thủ đoạn để bảo vệ ngân sách

Trong nền kinh tế thị trường, thuế giá trị gia tăng (GTGT) không chỉ là nguồn thu trụ cột của ngân sách mà còn là công cụ thúc đẩy xuất khẩu. Tuy nhiên, lợi dụng sự thông thoáng của chính sách, một số đối tượng tội phạm đã thành lập doanh nghiệp ma và chuỗi cung ứng ảo, nhằm chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước với thủ đoạn ngày càng tinh vi.
Mỗi sản phẩm cần một “danh tính số” để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Mỗi sản phẩm cần một “danh tính số” để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Tem chống giả hay mã QR không còn là “lá chắn” tuyệt đối trước hàng giả. Theo bà Phạm Thị Xuân, Viện trưởng Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số, khi hành vi làm giả ngày càng tinh vi, trọng tâm của cuộc chiến chống hàng xâm phạm sở hữu trí tuệ (SHTT) không còn nằm ở việc kiểm tra sản phẩm, mà phải chuyển sang xác thực dữ liệu và kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng.
Phòng chống gian lận hóa đơn điện tử: Hiệu quả từ quản lý rủi ro dựa trên dữ liệu lớn

Phòng chống gian lận hóa đơn điện tử: Hiệu quả từ quản lý rủi ro dựa trên dữ liệu lớn

Trong bối cảnh nền kinh tế số phát triển mạnh mẽ, hóa đơn điện tử (HĐĐT) đã trở thành công cụ then chốt thúc đẩy tính minh bạch. Tuy nhiên, đi kèm với đó là những thủ đoạn gian lận tinh vi, có tổ chức. Để xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm, ngành Thuế đã đẩy mạnh ứng dụng thông tin vào công tác quản lý. Đặc biệt là triển khai Ứng dụng cảnh báo HĐĐT vượt ngưỡng an toàn và Ứng dụng đối chiếu dữ liệu tờ khai thuế GTGT với HĐĐT, bước đầu đã mang lại những kết quả tích cực.
Minh bạch và khả năng dự báo chính sách thuế ngày càng quan trọng với nhà đầu tư

Minh bạch và khả năng dự báo chính sách thuế ngày càng quan trọng với nhà đầu tư

Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng gia tăng, tính minh bạch, khả năng dự báo và mức độ ổn định của chính sách thuế đang trở thành những yếu tố được nhà đầu tư đặc biệt quan tâm. Đây cũng là nội dung được các chuyên gia chia sẻ tại Tọa đàm “Lãnh đạo thuế trong Kỷ nguyên mới - Góc nhìn toàn cầu và thực tiễn tại Việt Nam” diễn ra ngày 24/6.
Định hướng tăng thêm 30 cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm, tạo thuận lợi cho xuất khẩu

Định hướng tăng thêm 30 cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm, tạo thuận lợi cho xuất khẩu

Dự kiến sẽ có thêm khoảng 30 cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm được bổ sung trên cả nước trong thời gian tới, cùng với việc xây dựng hai trung tâm kiểm nghiệm mới tại Khánh Hòa và Thành phố Hồ Chí Minh. Động thái này nằm trong lộ trình nâng cao năng lực quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) theo chuỗi cung ứng, tăng khả năng cảnh báo sớm nguy cơ và hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Thêm công cụ nhận diện, truy vết hàng giả trong thương mại điện tử

Thêm công cụ nhận diện, truy vết hàng giả trong thương mại điện tử

Bổ sung khái niệm “hàng giả” trực tiếp vào Luật Thương mại và gắn mã định danh riêng cho từng bưu kiện là hai đề xuất đáng chú ý đang được cơ quan quản lý xây dựng. Trong bối cảnh thương mại điện tử (TMĐT) phát triển nhanh, các chính sách này được kỳ vọng tạo nền tảng pháp lý thống nhất để nhận diện, truy vết và xử lý vi phạm, đồng thời tăng tính minh bạch cho hoạt động lưu thông hàng hóa.
Đề xuất mở rộng ưu đãi thuế, tín dụng xanh cho ngành nhiên liệu sinh học

Đề xuất mở rộng ưu đãi thuế, tín dụng xanh cho ngành nhiên liệu sinh học

Hàng loạt ưu đãi về thuế, đầu tư và tài chính xanh đang được áp dụng cho các dự án nhiên liệu sinh học. Cùng với việc triển khai xăng E10 trên toàn quốc, đây được xem là nền tảng quan trọng để thúc đẩy phát triển thị trường trong giai đoạn mới.
Hoàn thuế GTGT doanh nghiệp lớn: Truy vết rủi ro qua chuỗi cung ứng nhiều tầng

Hoàn thuế GTGT doanh nghiệp lớn: Truy vết rủi ro qua chuỗi cung ứng nhiều tầng

Trong bối cảnh xuất khẩu mở rộng, hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) vừa hỗ trợ doanh nghiệp cải thiện dòng tiền, nâng cao năng lực cạnh tranh, vừa là lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng để gian lận, chiếm đoạt ngân sách. Thực tiễn giải quyết hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau tại Chi cục Thuế doanh nghiệp lớn (Cục Thuế) cho thấy công tác quản lý không thể chỉ dừng ở đối chiếu hồ sơ, hóa đơn, mà phải truy vết dòng hàng, dòng tiền và các mắt xích trong chuỗi cung ứng nhiều tầng.
Nhận diện thủ đoạn trục lợi hoàn thuế qua sàn thương mại điện tử

Nhận diện thủ đoạn trục lợi hoàn thuế qua sàn thương mại điện tử

Sự phát triển nhanh của thương mại điện tử (TMĐT) mở ra không gian kinh doanh mới, nhưng cũng tạo ra những “điểm mù” trong quản lý thuế nếu giao dịch, dòng tiền và vận chuyển hàng hóa không được kiểm soát đồng bộ. Từ thực tiễn quản lý, ngành Thuế đã nhận diện 5 thủ đoạn phổ biến của các đơn vị kinh doanh TMĐT nhằm hợp thức hóa doanh thu, chi phí, hồ sơ xuất khẩu để trục lợi thuế, đặc biệt là hoàn thuế giá trị gia tăng.
Xóa bỏ tư duy "đối phó" trong quản trị thuế: Chìa khóa để doanh nghiệp nhỏ phát triển bền vững

Xóa bỏ tư duy "đối phó" trong quản trị thuế: Chìa khóa để doanh nghiệp nhỏ phát triển bền vững

Trong kỷ nguyên kinh tế số, việc chuyển đổi từ phương thức quản lý thuế thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu sống còn. Đối với cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), đây không chỉ là việc chuẩn hóa nội lực, minh bạch tài chính mà còn là cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Dòng tiền điện tử trở thành "mắt xích" quản lý thuế thương mại điện tử

Dòng tiền điện tử trở thành "mắt xích" quản lý thuế thương mại điện tử

Trong bối cảnh thương mại điện tử (TMĐT) tăng trưởng nhanh, bài toán hiện nay không còn chỉ là mở rộng quy mô, mà là làm sao cân bằng giữa phát triển thị trường với yêu cầu minh bạch dữ liệu, quản lý thuế và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh và các nền tảng số.
Giải quyết tranh chấp thuế quốc tế: Chìa khóa xây dựng môi trường đầu tư tin cậy

Giải quyết tranh chấp thuế quốc tế: Chìa khóa xây dựng môi trường đầu tư tin cậy

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy biến động, nhà đầu tư không chỉ tìm kiếm các ưu đãi về thuế hay chi phí nhân công rẻ, mà còn đặc biệt quan tâm đến sự minh bạch và công bằng trong việc giải quyết các tranh chấp thuế phát sinh. Việc cải cách quy trình giải quyết khiếu nại, tranh chấp thuế quốc tế hiện nay không chỉ là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ nguồn thu ngân sách mà còn là yếu tố sống còn để Việt Nam duy trì vị thế điểm đến đầu tư hấp dẫn và tin cậy.
Chiến dịch "Làm sạch mã số thuế": Mạnh tay xử lý vi phạm và sàng lọc rủi ro cho doanh nghiệp

Chiến dịch "Làm sạch mã số thuế": Mạnh tay xử lý vi phạm và sàng lọc rủi ro cho doanh nghiệp

Quyết định số 595/QĐ-CT của Cục Thuế về triển khai Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh” đang tạo ra một bước ngoặt lớn trong công tác quản lý thuế. Nhiều chuyên gia thuế nhận định, đây là cuộc tái cấu trúc dữ liệu toàn diện.
Quản lý theo sắc thuế hay quản trị vòng đời nghĩa vụ thuế trên nền tảng dữ liệu và mức độ tuân thủ?

Quản lý theo sắc thuế hay quản trị vòng đời nghĩa vụ thuế trên nền tảng dữ liệu và mức độ tuân thủ?

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hiện đại hóa công tác quản lý thuế, mô hình quản lý thuế truyền thống theo từng sắc thuế và chức năng nghiệp vụ đang bộc lộ những hạn chế trước yêu cầu quản trị rủi ro thuế và quản lý tuân thủ hiện đại. Bản chất của nghĩa vụ thuế phát sinh từ các nghiệp vụ kinh tế, từ mối quan hệ giữa kế toán và pháp luật thuế, do đó việc làm rõ các rủi ro trong quản lý thuế dưới góc độ quản trị toàn bộ vòng đời nghĩa vụ thuế của người nộp thuế là cần thiết. Trên cơ sở đó, bài viết gợi ý một số đề xuất mang tính định hướng đổi mới mô hình quản lý thuế theo hướng quản trị nghĩa vụ thuế dựa trên dữ liệu, mức độ tuân thủ và quản lý rủi ro thuế phù hợp với tinh thần cải cách của Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 của Quốc hội.