![]() |
| Ngành Thuế chủ động, quyết liệt thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách, đẩy mạnh chuyển đổi số. |
Từ góc nhìn thực tiễn và mối quan hệ kế toán với pháp luật thuế...
Quá trình phát triển kinh tế số, thương mại điện tử, thanh toán điện tử và dữ liệu lớn đang làm thay đổi căn bản phương thức quản lý nhà nước nói chung và quản lý thuế nói riêng. Trong điều kiện đó, mô hình quản lý thuế truyền thống chủ yếu dựa trên hồ sơ giấy, quản lý theo từng sắc thuế, kiểm tra thủ công và phân chia chức năng hành chính… đang dần bộc lộ những hạn chế về hiệu lực và hiệu quả trong công tác quản lý thuế.
Thực tiễn cho thấy nghĩa vụ thuế của người nộp thuế không tồn tại độc lập theo từng sắc thuế mà phát sinh từ các nghiệp vụ kinh tế cụ thể. Ví dụ một giao dịch kinh tế khi phát sinh đồng thời tạo ra dữ liệu kế toán, hóa đơn, dòng tiền, doanh thu, chi phí, nghĩa vụ kê khai và nghĩa vụ thuế tương ứng. Do đó, quản lý thuế hiện đại cần được chuyển từ tư duy “quản lý sắc thuế“ sang ”quản trị vòng đời nghĩa vụ thuế phát sinh từ nghiệp vụ kinh tế" là hết sức cần thiết.
Như chúng ta đều biết, bản chất của thuế là nghĩa vụ tài chính phát sinh từ các hoạt động kinh tế của tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế. Vì vậy, mọi nghĩa vụ thuế đều gắn với một hoặc nhiều nghiệp vụ kinh tế cụ thể như bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, trả thu nhập, đầu tư tài chính, chuyển nhượng tài sản, nhập khẩu hàng hóa, khai thác tài nguyên và tiêu dùng hàng hóa đặc biệt.
Song song đó, một nghiệp vụ kinh tế có thể đồng thời tạo ra nhiều nghĩa vụ thuế khác nhau. Đơn cử như hoạt động bán hàng hóa phát sinh thuế GTGT và thuế TNDN; hoạt động trả lương phát sinh nghĩa vụ khấu trừ thuế TNCN; hoạt động kinh doanh bia, rượu, thuốc lá đồng thời phát sinh thuế GTGT, thuế TTĐB và thuế TNDN.
Điều này cho thấy nghiệp vụ kinh tế mới là đối tượng gốc phát sinh nghĩa vụ thuế, còn các sắc thuế chỉ là hình thức pháp lý để xác lập nghĩa vụ tài chính đối với ngân sách Nhà nước.Chế độ kế toán là hệ thống phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thông qua chứng từ, tài khoản kế toán, sổ sách và báo cáo tài chính. Trong khi đó, pháp luật thuế xác lập nghĩa vụ tài chính đối với các nghiệp vụ kinh tế đó.
Có thể khái quát rằng, kế toán phản ánh bản chất kinh tế của giao dịch; thuế xác định hệ quả pháp lý của giao dịch kinh tế. Vì thế, thuế không tồn tại độc lập mà là hệ quả pháp lý phát sinh từ các nghiệp vụ kinh tế được phản ánh thông qua hệ thống kế toán.
Từ góc nhìn đó, rủi ro trong quản lý thuế là nguy cơ làm cho số thuế phát sinh từ các nghiệp vụ kinh tế không được ghi nhận đầy đủ thành nghĩa vụ nộp thuế và không được nộp kịp thời vào ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật. Do đó, các rủi ro luôn rình rập và có thể xuất hiện ở bất kỳ giai đoạn nào trong vòng đời nghĩa vụ thuế của người nộp thuế như: phát sinh nghiệp vụ, lập hóa đơn, ghi nhận kế toán, kê khai thuế, xác lập nghĩa vụ thuế, nộp ngân sách Nhà nước, hậu kiểm.
Cũng cần lưu ý rằng, công tác kiểm tra thuế theo Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 thể hiện rõ định hướng: quản lý rủi ro, kiểm tra trên dữ liệu điện tử, kiểm tra trực tuyến, giảm kiểm tra thủ công dàn trải.
Như vậy rõ ràng, bản chất của quản trị rủi ro thuế là quản trị toàn bộ vòng đời nghĩa vụ thuế. Việc kiểm tra thuế cần dựa trên bản chất kinh tế của hoạt động và giao dịch phát sinh nghĩa vụ thuế. Đây là bước chuyển quan trọng từ quản lý hồ sơ sang quản lý theo dữ liệu, giao dịch và quản trị rủi ro tuân thủ pháp luật thuế.
... đến gợi mở đổi mới mô hình quản lý thuế
“Ngành Thuế cần chuyển đổi căn bản từ tư duy thu ngân sách sang quản trị nguồn thu”, đó là thông tin chỉ đạo mới nhất từ Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn tại buổi làm việc với Cục Thuế ngày 11/5/2026 về tình hình thực hiện nhiệm vụ trọng tâm công tác thuế giai đoạn 2021-2025 và triển khai mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2026-2030.
Trên tinh thần đó, thiết nghĩ việc ngành Thuế cần chuyển mình mạnh mẽ từ công tác quản lý theo sắc thuế sang quản lý theo nghiệp vụ kinh tế và mức độ tuân thủ thuế là yêu cầu cấp thiết đang đặt ra.
Cụ thể: lấy dữ liệu Hệ thống quản lý thuế tập trung - TMS, big data, quản lý thuế theo dòng tiền làm nền tảng quản lý; tăng cường quản trị rủi ro và hậu kiểm tuân thủ thuế của người nộp thuế và cơ quan quản lý thuế; đổi mới hệ thống KPI đánh giá hiệu quả công tác quản lý thuế; tổ chức lại bộ máy theo hướng quản lý tuân thủ và quản trị thuế số...
Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và hiện đại hóa quản lý tài chính công, quản lý thuế cần được đổi mới theo hướng quản trị nghĩa vụ thuế dựa trên dữ liệu, rủi ro và mức độ tuân thủ của người nộp thuế.
Chính vì lẽ đó, việc ngành Thuế chuyển từ tư duy quản lý theo sắc thuế sang quản trị toàn bộ vòng đời nghĩa vụ thuế phát sinh từ các nghiệp vụ kinh tế của người nộp thuế sẽ tạo nền tảng cho công tác quản lý thuế số hiện đại, minh bạch và hiệu quả, góp phần cùng ngành Tài chính vươn mình mạnh mẽ, đột phá vào kỷ nguyên mới của đất nước.