Thứ tư 09/09/2026 00:07
Thời tiết: Hà Nội 30°C
Đà Nẵng 26°C
Cà Mau 26°C
Hải Phòng 29°C
TP Hồ Chí Minh 29°C
e-ISSN 3093-3501
Tiêu dùng - Thương mại điện tử
aa

Thị trường nội địa Việt Nam: Liên kết trong và ngoài nước - giải pháp mở rộng thị trường trước áp lực cạnh tranh

Thu Hiền
Trong bối cảnh doanh nghiệp FDI ngày càng mở rộng hiện diện tại thị trường nội địa, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài một cách chủ động và có chọn lọc sẽ là giải pháp quan trọng giúp doanh nghiệp trong nước không chỉ tiếp cận mà còn từng bước chiếm lĩnh thị trường nội địa trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu.
Thị trường nội địa Việt Nam: 269 tỷ USD và bài toán tăng trưởng bền vững Thị trường nội địa Việt Nam: Chuyển mạnh từ chợ truyền thống sang bán lẻ hợp kênh Thị trường nội địa Việt Nam: Doanh nghiệp xoay trục khai thác “mỏ vàng” nội địa
Thị trường nội địa Việt Nam: Liên kết trong và ngoài nước - giải pháp mở rộng thị trường trước áp lực cạnh tranh
Sự mở rộng mạnh mẽ của doanh nghiệp FDI trên thị trường nội địa đang tạo ra áp lực cạnh tranh ngày càng lớn, buộc doanh nghiệp Việt Nam phải tái cấu trúc. Ảnh: Internet

Áp lực cạnh tranh trên thị trường nội địa

Trong nhiều năm, Việt Nam được biết đến chủ yếu như một cứ điểm sản xuất - xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tuy nhiên, khoảng 5 - 10 năm trở lại đây, xu hướng này đã thay đổi rõ rệt khi ngày càng nhiều doanh nghiệp FDI coi thị trường nội địa Việt Nam là một thị trường mục tiêu, thay vì chỉ là nơi đặt nhà máy.

Sự mở rộng mạnh mẽ của doanh nghiệp FDI trên thị trường nội địa đang tạo ra áp lực cạnh tranh ngày càng lớn, buộc doanh nghiệp Việt Nam phải tái cấu trúc và nâng cấp nếu không muốn bị thu hẹp thị phần.

Xu hướng doanh nghiệp FDI tập trung vào thị trường nội địa thể hiện rõ ở nhiều lĩnh vực. Trong bán lẻ và tiêu dùng, các tập đoàn như Central Group, Aeon hay Lotte đầu tư hệ thống trung tâm thương mại, siêu thị, nhắm trực tiếp đến người tiêu dùng Việt Nam. Ở lĩnh vực thực phẩm - đồ uống, các thương hiệu lớn như Nestlé, Heineken, Coca-Cola, PepsiCo đầu tư nhà máy quy mô lớn nhưng mục tiêu chính là phục vụ thị trường trong nước.

Trong bất động sản và hạ tầng đô thị, nhiều doanh nghiệp FDI phát triển các dự án nhà ở, văn phòng, trung tâm thương mại để đáp ứng nhu cầu nội địa. Cùng với đó, các doanh nghiệp công nghệ và kinh tế số như Grab, Shopee, Lazada, TikTok cũng xem Việt Nam là thị trường chiến lược, không chỉ là một chi nhánh phụ.

Doanh nghiệp FDI có lợi thế lớn về quy mô sản xuất, thương hiệu, tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, an toàn và môi trường… trong chiến lược chiếm lĩnh thị trường. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn hoạt động ở quy mô nhỏ, thiếu vốn và công nghệ, dẫn đến bất lợi kép về giá và chất lượng.

Áp lực này buộc doanh nghiệp nội phải chuẩn hóa quy trình sản xuất, tối ưu chi phí thông qua chuyển đổi số, đồng thời tập trung vào các phân khúc có giá trị riêng thay vì cạnh tranh trực diện bằng giá thấp. Cùng với đó, vấn đề liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài để khẳng định vị thế làm chủ sân nhà thị trường nội địa.

Tuy nhiên, doanh nghiệp nội cũng có nhiều lợi thế trong cạnh tranh trên thị trường nội địa so với doanh nghiệp ngoại. Thực tế cho thấy, doanh nghiệp trong nước có lợi thế về hiểu biết thị trường, văn hóa tiêu dùng và hệ thống phân phối, trong khi doanh nghiệp nước ngoài sở hữu nguồn vốn lớn, công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản trị tiên tiến.

Đơn cử, trong lĩnh vực logistics, cả nước hiện có khoảng hơn 45.000 doanh nghiệp logistics, trong đó có khoảng 5.000 doanh nghiệp hoạt động quốc tế. Các doanh nghiệp tham gia đa dạng phân khúc vận tải biển, hàng không, đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, kho bãi, ICD, dịch vụ 3PL, 4PL, logistics thương mại điện tử, chuỗi lạnh…

Theo ông Đào Trọng Khoa, Phó Chủ tịch Liên đoàn các Hiệp hội Giao nhận vận tải quốc tế (FIATA), Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), lợi thế đầu tiên và quan trọng nhất, chính là sự am hiểu sâu sắc thị trường nội địa và khu vực.

Doanh nghiệp Việt Nam nắm rất rõ đặc thù hạ tầng, thủ tục, tập quán thương mại, cũng như nhu cầu cụ thể của từng ngành hàng. Đây là nền tảng để cung cấp các giải pháp logistics “may đo”, điều mà nhiều tập đoàn đa quốc gia khó triển khai một cách linh hoạt trong thời gian ngắn.

Một thế mạnh khác là khả năng thích ứng nhanh và tốc độ ra quyết định. Doanh nghiệp logistics Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có khả năng điều chỉnh mô hình kinh doanh, tuyến vận tải và giải pháp dịch vụ nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Lợi thế của doanh nghiệp nội trước áp lực cạnh tranh

Thương hiệu nước ngoài thường gắn với uy tín toàn cầu, hình ảnh hiện đại và trải nghiệm khách hàng chuyên nghiệp. Điều này tạo ra rào cản tâm lý đối với sản phẩm nội địa, đặc biệt trong các ngành như bán lẻ hiện đại, điện tử, mỹ phẩm hay dược phẩm.

Tuy nhiên, áp lực này cũng mở ra cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam xây dựng thương hiệu dựa trên bản sắc địa phương, mức độ phù hợp với thị trường và giá trị sử dụng thực tế, đồng thời gia tăng niềm tin thông qua chất lượng ổn định và dịch vụ hậu mãi.

Thị trường nội địa Việt Nam: Liên kết trong và ngoài nước - giải pháp mở rộng thị trường trước áp lực cạnh tranh
Doanh nghiệp ngoại đang đầu tư mạnh vào thị trường bán lẻ ở Việt Nam. Ảnh: Internet

Theo ông Bùi Xuân Bình, Chủ tịch kiêm CEO hệ sinh thái GG Power cho biết, doanh nghiệp nội có lợi thế so với các doanh nghiệp lớn của Trung Quốc trong cung cấp một giải pháp tùy biến cao và linh hoạt cho khách hàng đầu tư tại Việt Nam.

Theo ông, tại Trung Quốc, quy mô công nghiệp rất lớn, trong khi tại Việt Nam, phần lớn các dự án chỉ có quy mô 1 - 2 MW. Do đó, những ông lớn rất khó ‘chạm tay’ để làm những dự án nhỏ lẻ như vậy.

Cùng 1.000 MW, họ chỉ cần làm với 100 khách hàng lớn, nhưng ở Việt Nam phải làm với 1.000 khách hàng. Việc phục vụ số lượng lớn khách hàng nhỏ lẻ như vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng tổ chức, hệ thống quản trị và nguồn lực đủ linh hoạt để hỗ trợ khách hàng trước, trong và sau bán hàng.

Việc xây dựng tổ chức, hệ thống quản trị, nguồn lực để linh hoạt hỗ trợ cho số lượng khách hàng lớn như vậy cần chiến lược ngay từ đầu và cần sự am hiểu thị trường. Đó cũng là lí do chính dẫn tới việc doanh nghiệp của ông đã ký kết hợp tác với đối tác lớn trong năm 2025 vừa qua.

Cũng theo đại diện GG Power, một trong những lý do quan trọng khác khiến nhà đầu tư lựa chọn hợp tác với GG Power là yếu tố doanh nghiệp địa phương và thương hiệu Việt Nam.

“Họ muốn có một công ty tổ chức sản xuất được và mang thương hiệu Việt Nam. Họ có tinh thần ủng hộ doanh nghiệp trong nước và tin rằng thương hiệu ‘Made in Vietnam’ dễ thuyết phục khách hàng của họ hơn”, ông Bình nói.

Liên kết chuỗi cung ứng, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa

Một trong những hạn chế lớn nhất hiện nay là tỷ lệ tham gia của doanh nghiệp Việt vào chuỗi cung ứng của khối FDI còn thấp, đặc biệt trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Phần lớn giá trị gia tăng vẫn nằm ở khâu thiết kế, công nghệ và phân phối - nơi doanh nghiệp nước ngoài chiếm ưu thế.

Thực tế cho thấy, trong bối cảnh sự hiện diện của các doanh nghiệp ngoại trên thị trường nội địa ngày càng nhiều, sự liên kết giữa hai bên, thông qua các hình thức như liên doanh, hợp tác chiến lược hay tham gia chuỗi cung ứng, có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp, giúp sản phẩm và dịch vụ đáp ứng tốt hơn nhu cầu người tiêu dùng trong nước.

Chia sẻ về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Toàn, chuyên gia về đầu tư nước ngoài nhấn mạnh, thực tế, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam hiện nay không chỉ đơn thuần là vốn, mà còn bao gồm công nghệ, phương thức quản lý, cách tổ chức hệ thống kinh doanh và tiếp cận thị trường.

Nếu nhìn ở góc độ tổng thể, vấn đề quan trọng nhất là làm sao tạo được giá trị gia tăng tại Việt Nam, đồng thời hình thành lợi thế cho doanh nghiệp trong nước.

“Việc hợp tác với doanh nghiệp nước ngoài, nếu làm đúng cách, sẽ giúp doanh nghiệp Việt tiếp thu được công nghệ, kinh nghiệm quản trị, cũng như cách tổ chức chuỗi cung ứng từ đầu vào, đầu ra đến người tiêu dùng cuối cùng. Đây là những yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh”, ông Nguyễn Văn Toàn nói.

Theo chuyên gia, có rất nhiều hình thức hợp tác khác nhau, trong đó, phổ biến nhất là liên doanh, liên kết; góp vốn thành lập công ty cổ phần; hợp đồng hợp tác kinh doanh. Trong lĩnh vực sản xuất, có thể là tham gia công nghiệp phụ trợ, sản xuất theo chuỗi. Trong lĩnh vực thương mại, bán lẻ thì có thể hợp tác phân phối, tiêu thụ sản phẩm.

Bên cạnh đó, ông Nguyễn Văn Toàn cũng nhấn mạnh vai trò của các tập đoàn lớn trong nước trong việc mở rộng sang các lĩnh vực kinh doanh khác, yếu tố lợi thế đến từ thương hiệu của doanh nghiệp.

Thực tế cho thấy, những “cú xoay” của các tập đoàn lớn như Masan hay Vingroup là ví dụ rất rõ. Từ sản xuất hay bất động sản, họ mở rộng sang bán lẻ, công nghiệp, thậm chí công nghệ cao và từng bước tạo được chỗ đứng. Điều này chứng minh rằng doanh nghiệp Việt hoàn toàn có thể làm được nếu có tầm nhìn dài hạn.

Nhiều ý kiến cho rằng, việc hợp tác với các đối tác quốc tế không nhằm thay thế vai trò của doanh nghiệp nội, mà để cùng phát triển thị trường trong nước.

Trong mô hình này, doanh nghiệp Việt Nam đóng vai trò trực tiếp triển khai giải pháp, hiểu thị trường và phục vụ khách hàng, trong khi đối tác nước ngoài tham gia bằng nguồn lực đầu tư và kinh nghiệm quốc tế.

Có thể thấy, doanh nghiệp Việt không chỉ có thể cạnh tranh với FDI ở phân khúc nội địa, mà còn thành công khi tận dụng lợi thế thị trường, xây dựng thương hiệu và hợp tác chiến lược.

Quan trọng nhất là sự linh hoạt trong chiến lược - từ liên kết cung ứng, mở rộng phân phối đến đầu tư vào công nghệ và phát triển thương hiệu - nhằm gắn kết sức mạnh nội địa với thế mạnh công nghệ, vốn và thị trường từ khối FDI.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đề xuất đưa quy định cấm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng vào luật

Đề xuất đưa quy định cấm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng vào luật

Sau 13 năm thực thi, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (Luật PCTHTL) đã tạo chuyển biến tích cực, nhưng đang đứng trước những thách thức chưa từng có. Sự bùng phát của thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, thuốc lá mới khác, gánh nặng kinh tế hơn 2% GDP mỗi năm và những “khe hở” trong kiểm soát trưng bày, quảng bá đặt ra yêu cầu cấp thiết phải sửa luật. Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn, đây không chỉ là câu chuyện y tế mà là lựa chọn phát triển của quốc gia.
Bước ngoặt, “lá chắn” mới cho thị trường hàng hóa phái sinh

Bước ngoặt, “lá chắn” mới cho thị trường hàng hóa phái sinh

Theo Bộ Công Thương, dự thảo Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh được thiết kế theo hướng toàn diện, tiệm cận chuẩn mực quốc tế, với trọng tâm là thiết lập cơ chế quản lý rủi ro tập trung. Điểm nhấn đáng chú ý là đề xuất mô hình đối tác trung tâm (CCP), đi kèm quỹ bảo đảm thanh toán và hệ thống giám sát vị thế.
Tăng giám sát, giữ ổn định thị trường xăng, dầu năm 2026

Tăng giám sát, giữ ổn định thị trường xăng, dầu năm 2026

Bộ Công Thương yêu cầu thương nhân đầu mối, sản xuất và phân phối xăng, dầu thực hiện đầy đủ tổng nguồn tối thiểu năm 2026, chủ động dự trữ và bảo đảm cung ứng liên tục trong mọi tình huống biến động của thị trường năng lượng thế giới.
Thương mại điện tử mở lối tăng trưởng cho thực phẩm, đồ uống

Thương mại điện tử mở lối tăng trưởng cho thực phẩm, đồ uống

Dự báo cho thấy, xuất khẩu thực phẩm - đồ uống (F&B) của Việt Nam có thể tăng 10 - 12%/năm từ 2026, trong khi doanh số F&B trên sàn thương mại điện tử (TMĐT) nội địa giảm tốc còn 37% năm 2025. Diễn biến trái chiều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về chiến lược xuất khẩu số, phát triển mô hình D2C (bán trực tiếp đến người tiêu dùng) và siết chặt quản lý thị trường trên môi trường trực tuyến.
Gỡ “điểm nghẽn” xăng sinh học, thúc đẩy lộ trình thay thế nhiên liệu hóa thạch

Gỡ “điểm nghẽn” xăng sinh học, thúc đẩy lộ trình thay thế nhiên liệu hóa thạch

Ngày 26/2/2026, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Chỉ thị số 07/CT-TTg về đẩy mạnh sản xuất, phối trộn, phân phối và sử dụng nhiên liệu sinh học tại Việt Nam (Chỉ thị số 07). Văn bản đặt trọng tâm xử lý những vướng mắc của thị trường, bảo đảm nguồn cung xăng sinh học ổn định, nâng cao hiệu quả hệ thống phân phối, đồng thời tạo động lực đủ mạnh về chính sách tài chính, thuế, phí nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng.
Hoàn thiện khung pháp lý Giao dịch hàng hóa phái sinh

Hoàn thiện khung pháp lý Giao dịch hàng hóa phái sinh

Bộ Công Thương đang lấy ý kiến rộng rãi các tổ chức, cá nhân về dự thảo Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh. Theo cơ quan soạn thảo, dự án Luật này sẽ quy định toàn diện về tổ chức, quản lý, giám sát và hoạt động giao dịch hàng hóa phái sinh; quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia thị trường; cơ chế phòng ngừa, xử lý rủi ro.
Mở cao điểm kiểm soát thị trường tại lễ hội, điểm du lịch

Mở cao điểm kiểm soát thị trường tại lễ hội, điểm du lịch

Sau tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, Chính phủ yêu cầu triển khai cao điểm kiểm tra tại lễ hội, điểm du lịch, siêu thị, chợ đầu mối; kiểm soát chặt giá cả, nguồn cung và an toàn thực phẩm. Lực lượng Quản lý thị trường (QLTT) được giao xử lý nghiêm buôn lậu, hàng giả, đầu cơ, ép giá, bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng và môi trường kinh doanh minh bạch.
Sàn thương mại điện tử sẽ không “vô can” khi người bán vi phạm

Sàn thương mại điện tử sẽ không “vô can” khi người bán vi phạm

Nền tảng số trung gian sẽ không còn đứng ngoài khi người bán vi phạm trên hệ thống của mình. Theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, nếu “biết hoặc phải biết” hành vi vi phạm mà không kịp thời ngăn chặn hoặc khắc phục, sàn thương mại điện tử (TMĐT) phải chia sẻ trách nhiệm pháp lý.
Không để thiếu hàng, sốt giá sau Tết

Không để thiếu hàng, sốt giá sau Tết

Bước vào cao điểm lễ hội xuân sau tết Bính Ngọ 2026, lực lượng Quản lý thị trường (QLTT) đồng loạt ra quân kiểm tra giá cả, nguồn gốc hàng hóa, an toàn thực phẩm tại các điểm du lịch tâm linh, chợ, siêu thị. Mục tiêu xuyên suốt là không để thiếu hàng, tăng giá bất hợp lý, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và giữ ổn định thị trường.
Đề xuất siết chặt quản lý hàng tiêu dùng đã qua sử dụng nhập khẩu

Đề xuất siết chặt quản lý hàng tiêu dùng đã qua sử dụng nhập khẩu

Bộ Công Thương đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương và các nghị định hướng dẫn thi hành, với nhiều thay đổi đáng chú ý nhằm tăng cường quản lý thị trường, bảo đảm minh bạch và bảo vệ người tiêu dùng.
Cuộc đua chuyển sang chất lượng và quản trị nền tảng thương mại điện tử

Cuộc đua chuyển sang chất lượng và quản trị nền tảng thương mại điện tử

Lần đầu tiên, TikTok Shop vượt Shopee về doanh số trong mùa cao điểm Tết, trong khi toàn thị trường thương mại điện tử (TMĐT) năm 2025 tăng trưởng 34,75%, đạt 429.700 tỷ đồng. Dữ liệu mới cho thấy, cạnh tranh không còn dừng ở quy mô mà chuyển mạnh sang chất lượng dịch vụ, trải nghiệm người dùng và năng lực quản trị nền tảng trong bối cảnh thị trường phân hóa sâu sắc.
Cần Thơ: Xử lý 118 vụ vi phạm buôn lậu, gian lận thương mại

Cần Thơ: Xử lý 118 vụ vi phạm buôn lậu, gian lận thương mại

Trong đợt cao điểm kiểm tra thị trường tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, lực lượng Quản lý thị trường (QLTT) TP. Cần Thơ kiểm tra 277 vụ, xử lý 118 vụ vi phạm, thu nộp ngân sách nhà nước 1.778.046.000 đồng và buộc tiêu hủy hàng hóa không bảo đảm an toàn trị giá 525.736.000 đồng.
Nền tảng ngoại vào Việt Nam phải có pháp nhân hoặc ký quỹ từ 1/7

Nền tảng ngoại vào Việt Nam phải có pháp nhân hoặc ký quỹ từ 1/7

Từ ngày 1/7, Luật Thương mại điện tử (TMĐT) mở ra khuôn khổ quản lý mới đối với các nền tảng xuyên biên giới hoạt động tại Việt Nam. Điểm đáng chú ý nhất là yêu cầu bắt buộc hiện diện pháp lý hoặc ký quỹ trong nước, đi kèm nghĩa vụ lưu trữ dữ liệu, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tranh chấp với người mua Việt Nam.
Kiểm soát chặt giá cả và chống buôn lậu sau Tết 2026

Kiểm soát chặt giá cả và chống buôn lậu sau Tết 2026

Lực lượng Quản lý thị trường (QLTT) đồng loạt ra quân ngay từ mùng 6 Tết, tăng cường kiểm tra giá cả, nguồn cung, thương mại điện tử và khu vực lễ hội, bảo đảm thị trường ổn định, không để xảy ra đầu cơ, tăng giá bất hợp lý.
Nguồn cung dồi dào, sức mua tăng trở lại từ mùng 5 Tết

Nguồn cung dồi dào, sức mua tăng trở lại từ mùng 5 Tết

Đến mùng 5 Tết Bính Ngọ 2026, thị trường hàng hóa thiết yếu trên cả nước đã trở lại trạng thái bình thường, nguồn cung dồi dào, giá cả ổn định. Trong cao điểm Tết, lực lượng chức năng kiểm tra 28 vụ, xử lý 20 vụ vi phạm, thu nộp ngân sách hơn 1,057 tỷ đồng; không ghi nhận hiện tượng găm hàng, sốt giá hay đứt gãy nguồn cung.