Quản lý thông qua công nghệ
Việc ban hành Nghị định số 68/2016/NĐ-CP và được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 67/2020/NĐ-CP đã tạo ra một bộ quy chuẩn thống nhất, cụ thể hóa các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với kho ngoại quan, kho CFS, địa điểm kiểm tra tập trung và cửa hàng miễn thuế.
Theo đó, đã nâng cao tiêu chuẩn quản lý thông qua công nghệ. Thay vì quản lý bằng sổ sách thủ công, các doanh nghiệp bắt buộc phải trang bị phần mềm quản lý hàng hóa kết nối trực tuyến với cơ quan Hải quan, hệ thống camera giám sát hồng ngoại đảm bảo quan sát mọi góc biệt lập 24/7 và dữ liệu phải được lưu trữ tối thiểu 6 tháng.
Sự chuyển đổi đó đã làm thay đổi hoàn toàn diện mạo của các khu vực chịu sự giám sát hải quan, chuyển từ mô hình lưu kho đơn thuần sang các trung tâm trung chuyển hiện đại.
![]() |
| Công chức hải quan kiểm tra hàng hóa tại bãi kiểm hóa trong khu vực cửa khẩu Cốc Nam (Lạng Sơn). Ảnh: H.Nụ |
Dữ liệu thống kê giai đoạn từ năm 2016 đến tháng 7/2025 cho thấy một bức tranh tăng trưởng đầy ấn tượng về số lượng các loại hình kho bãi được công nhận và đi vào hoạt động ổn định.
Dẫn đầu về số lượng là loại hình kho, bãi ngoại quan với 204 địa điểm đang hoạt động, phản ánh đúng nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong việc lưu giữ hàng hóa chờ làm thủ tục hoặc tái xuất.
Theo sát là địa điểm tập kết, kiểm tra, giám sát hải quan tập trung với 147 đơn vị. Sự gia tăng mạnh mẽ của loại hình này trong giai đoạn 2019-2022 (đỉnh điểm năm 2022 với 25 lần thực hiện thủ tục công nhận) cho thấy xu hướng dịch chuyển từ kiểm tra tại cửa khẩu sang kiểm tra tại các địa điểm nội địa nhằm giảm áp lực cho biên giới.
Loại hình kinh doanh hàng miễn thuế hiện có 126 cơ sở, dù chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến động du lịch quốc tế, nhưng vẫn duy trì được mạng lưới phủ khắp các sân bay và cửa khẩu lớn.
Đáng chú ý, các loại hình chuyên biệt như kho xăng dầu (54 địa điểm) và địa điểm làm thủ tục hải quan tại cảng cạn/ICD (22 địa điểm) đã bắt đầu có sự tăng trưởng ổn định sau khi Nghị định số 67/2020/NĐ-CP bổ sung các quy định đặc thù về kiểm tra, giám sát đối với mặt hàng chất lỏng và hạ tầng cảng nội địa.
Tổng số các loại hình kho bãi khác như địa điểm thu gom hàng lẻ (47), kho hàng không kéo dài (14) và địa điểm chuyển phát nhanh (16) đã tạo nên một mạng lưới logistics đa phương thức, hỗ trợ đắc lực cho hoạt động thương mại xuyên biên giới.
Trong quá trình quản lý, giám sát, Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan (nay là Cục Hải quan) đã triển khai quyết liệt công tác phổ biến pháp luật. Việc duy trì các tổ tư vấn tại các đơn vị hải quan địa phương đã giúp rút ngắn khoảng cách giữa văn bản pháp luật và thực thi thực tế, đảm bảo doanh nghiệp luôn được hướng dẫn kịp thời về các thủ tục mở rộng, thu hẹp hay chuyển quyền sở hữu kho bãi.
Vì sao cần một khung pháp lý thay thế?
Mặc dù Nghị định số 68/2016/NĐ-CP và Nghị định số 67/2020/NĐ-CP đã tạo ra bước tiến lớn, nhưng sau hơn 8 năm triển khai, một số quy định đã bắt đầu bộc lộ sự thiếu tương thích với sự vận động thần tốc của nền kinh tế số.
Trong đó, sự phát triển bùng nổ của thương mại điện tử xuyên biên giới đang đặt ra yêu cầu về các kho hàng thông minh với quy trình xử lý đơn hàng lẻ siêu tốc. Các tiêu chuẩn về tường rào cứng, phân tách khu vực hay diện tích tối thiểu trong quy định hiện hành đôi khi trở thành rào cản kỹ thuật, làm chậm tốc độ luân chuyển hàng hóa và tăng chi phí logistics cho doanh nghiệp.
Một trong những áp lực lớn nhất hiện nay là yêu cầu từ Công điện số 22/CĐ-TTg ngày 9/3/2025 của Thủ tướng Chính phủ. Chỉ đạo này yêu cầu các đơn vị phải bảo đảm giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, ít nhất 30% chi phí tuân thủ và bãi bỏ 30% điều kiện kinh doanh không cần thiết. Để đạt được con số định lượng này, việc sửa đổi các văn bản hướng dẫn là chưa đủ mà cần một nghị định mới thay thế hoàn toàn để tái cấu trúc lại quy trình công nhận và quản lý.
Theo đại diện Ban Giám sát quản lý về hải quan (Cục Hải quan), thực tiễn cho thấy, việc quản lý hiện nay vẫn còn những điểm nghẽn về mặt thủ tục hành chính khi doanh nghiệp muốn thay đổi thông tin chủ kho hoặc điều chỉnh diện tích. Quy trình hậu kiểm và duy trì điều kiện hoạt động sau khi được công nhận đôi khi chưa thực sự linh hoạt, đặc biệt là trong những giai đoạn khó khăn như đại dịch Covid-19 vừa qua. Khi đó, một số doanh nghiệp gặp áp lực tài chính dẫn đến việc lơ là đầu tư nâng cấp hệ thống camera và phần mềm quản lý, gây rủi ro cho công tác giám sát của cơ quan Hải quan.
Bên cạnh đó, xu hướng hiện đại hóa hải quan đang hướng tới mô hình Hải quan số và Hải quan thông minh. Điều này đòi hỏi hệ thống kho bãi không chỉ có phần mềm quản lý mà phải đạt được sự liên thông dữ liệu tuyệt đối với hệ thống của cơ quan Hải quan. Các yêu cầu về chuẩn kết nối thông tin hiện nay trong Nghị định số 68/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 67/2020/NĐ-CP vẫn dừng lại ở mức độ cơ bản, chưa bắt kịp với các công nghệ mới như Big Data hay AI trong việc nhận diện và phân tích rủi ro lô hàng ngay tại cửa kho, đại diện Ban Giám sát quản lý về hải quan nhấn mạnh.
Theo Cục Hải quan, việc ban hành nghị định mới thay thế Nghị định số 68/2016/NĐ-CP và Nghị định số 67/2020/NĐ-CP là bước đi chiến lược nhằm tối ưu hóa chi phí logistics thông qua việc đơn giản hóa điều kiện hạ tầng và ứng dụng các giải pháp giám sát công nghệ cao thay thế cho các rào cản vật lý cứng nhắc.
Trong đó, khung pháp lý mới sẽ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào hạ tầng số, tạo điều kiện cho các mô hình kinh doanh mới hoạt động hiệu quả và đảm bảo tính minh bạch trong công tác chống gian lận thương mại. Điều này không chỉ giúp cơ quan Hải quan giám sát từ xa một cách hiệu quả mà còn tạo đà cho doanh nghiệp logistics Việt Nam bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu.