![]() |
| Công chức Hải quan kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ. |
Tại Chương trình hỏi đáp trực tuyến về chính sách thuế, hải quan dành cho doanh nghiệp Hàn Quốc năm 2026 do Cục Thuế và Cục Hải quan phối hợp tổ chức ngày 23/7/2026, đại diện các công ty: Damy Vina, Jungwoo Vina, SR Hanoi Daedong, Clobal Dyeing, Hyosung Dong Nai, Hyosung Vietnam, Speed Vina, Youngwoo Vina, Daewon Chemical Vina nêu vướng mắc liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu tại chỗ.
Cụ thể, doanh nghiệp nêu rõ, ngày 20/2/2024, Tổng cục Thuế (nay là Cục Thuế) ban hành Công văn số 558/TCT-CS, đã dẫn chiếu Công văn số 3622/TCHQ-GSQL của cơ quan Hải quan. Theo đó nếu thương nhân nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam dưới bất kỳ hình thức nào, bao gồm đầu tư, hoạt động kinh doanh, văn phòng đại diện hoặc chi nhánh, thì không được coi là “thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam”. Giao dịch được xác định theo tiêu chí này sẽ không được công nhận là giao dịch xuất nhập khẩu tại chỗ và tờ khai hải quan không đáp ứng điều kiện áp dụng thuế suất 0% sẽ không được hoàn thuế giá trị gia tăng.
Liên quan đến khái niệm “thương nhân nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP, các doanh nghiệp đề nghị cơ quan Hải quan đưa ra tiêu chí giải thích rõ ràng và hợp lý trên cơ sở xem xét tổng thể mục đích lập pháp của quy định này trong vai trò là nghị định hướng dẫn Luật Hải quan, sự thống nhất với Luật Quản lý ngoại thương và các nghị định liên quan, cũng như tham khảo các cơ chế tương tự của các quốc gia khác.
Doanh nghiệp kiến nghị xem xét thực hiện các giải pháp hoàn thiện pháp luật như sau: Luật số 90/2025/QH15 về việc sửa đổi, sung một số điều của Luật Đấu thầu; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Hải quan; Luật thuế Xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công và Luật Quản lý, sử dụng tài sản công (có hiệu lực từ ngày 1/7/2025) đã bãi bỏ điều kiện “thương nhân nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP.
Theo quan điểm của doanh nghiệp, điều này cho thấy cơ quan lập pháp đã nhận thấy rằng điều kiện nêu trên không còn phù hợp với bản chất của giao dịch xuất nhập khẩu tại chỗ.
Vì vậy, các doanh nghiệp đề nghị cơ quan quản lý xem xét ban hành quy định chuyển tiếp dưới hình thức nghị định, thông tư hoặc văn bản hướng dẫn phù hợp, nhằm làm rõ tinh thần và nguyên tắc của lần sửa đổi pháp luật này cũng được áp dụng đối với các giao dịch xuất nhập khẩu tại chỗ phát sinh trước ngày 1/7/2025.
Doanh nghiệp cho rằng, việc làm rõ về mặt lập pháp và hành chính như vậy sẽ góp phần nâng cao tính ổn định pháp lý và khả năng dự đoán cho người nộp thuế và doanh nghiệp; bảo đảm sự thống nhất trong việc giải thích và thực thi pháp luật giữa các cơ quan có thẩm quyền; đồng thời tăng cường hơn nữa mức độ tin cậy và năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư tại Việt Nam.
Trước đề xuất, kiến nghị của các doanh nghiệp, theo Ban Giám sát quản lý về hải quan và Ban Nghiệp vụ thuế hải quan (Cục Hải quan) đã có phản hồi cụ thể.
Theo đó, về khái niệm “thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam” được định nghĩa tại khoản 5 Điều 3 Luật Quản lý ngoại thương số 05/2017/QH14 như sau: “Thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam là thương nhân nước ngoài không có hoạt động đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam theo các hình thức được quy định trong pháp luật về đầu tư, thương mại, doanh nghiệp; không có văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về thương mại, doanh nghiệp”.
Đối với hoạt động đầu tư tại Việt Nam, tại Điều 18 Luật Đầu tư quy định cụ thể các hình thức đầu tư tại Việt Nam, gồm: Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp; thực hiện dự án đầu tư; đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC và các hình thức đầu tư, loại hình tổ chức kinh tế mới theo quy định của Chính phủ.
Theo các đơn vị nghiệp vụ của Cục hải quan, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 10 Luật số 90/2025/QH15 quy định chuyển tiếp quy định sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan thì “hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ thuộc tờ khai hải quan đã đăng ký nhưng chưa hoàn thành thủ tục hải quan trước thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành được áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 3 của Luật này”. Do vậy, chỉ các trường hợp nêu trên được áp dụng quy định này.
Đối với vướng mắc về cách hiểu trong trường hợp thương nhân nước ngoài có hiện diện tại Việt Nam và quyền xuất nhập khẩu theo quy định tại Điều 5 Luật Quản lý ngoại thương số 05/2017/QH14, Cục Hải quan đề nghị doanh nghiệp trao đổi thêm với Bộ Công Thương để được làm rõ.