Thứ năm 05/11/2026 17:00
Thời tiết: Hà Nội 30°C
Đà Nẵng 29°C
Cà Mau 29°C
Hải Phòng 28°C
TP Hồ Chí Minh 31°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách / Diễn đàn
aa

Hiệp định thuế đa phương: giải pháp tích hợp, hoàn thiện hành lang pháp lý về thuế quốc tế

Đối với Việt Nam, việc ký kết hiệp định thuế đa phương không chỉ để sửa đổi các hiệp định thuế song phương một cách đồng bộ và hiệu quả, nhằm thực thi các biện pháp hiệp định thuế đã được đưa ra tại Dự án BEPS, mà đây còn là giải pháp nhanh chóng để nhất quán lại toàn bộ các hiệp định thuế hiện hành mà không cần đàm phán lại song phương từng hiệp định trong hệ thống hiệp định mà Việt Nam đã ký kết.
hiep dinh thue da phuong giai phap tich hop hoan thien hanh lang phap ly ve thue quoc te
Vấn đề thuế quốc tế luôn là chủ đề quan trọng trong các chương trình nghị sự về tài chính/thuế quốc tế hiện nay. Bởi trong những năm gần đây, các hành vi làm xói mòn cơ sở thu thuế và chuyển lợi nhuận ra nước ngoài (BEPS) là những cách thức tránh thuế phổ biến. Theo đó, thông qua việc khai thác các lỗ hổng và thiếu đồng bộ trong các quy định về thuế, các tập đoàn, DN có thể làm “biến mất” lợi nhuận chịu thuế, hoặc chuyển lợi nhuận sang các nước, hoặc vùng lãnh thổ có ít, hoặc không có hoạt động kinh tế thực chất nhưng là nơi có thuế suất thấp hay được miễn thuế nhằm giảm thiểu số thuế TNDN phải nộp. Với cách thức này, thống kê của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho biết, mỗi năm số thu thuế bị mất do BEPS ở các nước đang phát triển vào khoảng 100-240 tỷ USD, tương đương 4-10% số thuế TNDN. Còn ở các nước phát triển, do phụ thuộc nhiều vào nguồn thu từ thuế TNDN, nên tác động từ BEPS càng nghiêm trọng hơn.
Xuất phát từ yêu cầu chính đáng về bảo vệ nguồn thu quốc gia, theo yêu cầu của các Nguyên thủ G20, dự án nhằm chống BEPS đã được triển khai nghiên cứu dựa trên Kế hoạch hành động BEPS của G20/OECD năm 2013, gồm 15 hành động. Trong đó, hành động cuối cùng (hành động 15) của Kế hoạch hành động BEPS là phân tích các vấn đề về luật pháp thuế quốc tế liên quan đến việc xây dựng một hiệp định thuế đa phương để giúp các nước thực hiện các biện pháp phát triển trong quá trình thực hiện dự án BEPS và sửa đổi, bổ sung một số điều khoản vào hệ thống hiệp định thuế song phương hiện hành của các nước ký kết, nhằm ngăn chặn các hành vi, hoạt động trốn, tránh thuế của các DN đa quốc gia, như thực hiện các giao dịch, nhằm lợi dụng hiệp định thuế, chống hình thành cơ sở thường trú, lợi dụng sự khác biệt về chính sách giữa các nước. Trên cơ sở những đánh giá phân tích này, các nước quan tâm sẽ phát triển một hiệp định thuế đa phương để đưa ra cách tiếp cận mới và hiệu quả đối với những vấn đề thuế quốc tế, phản ánh sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu và sự cần thiết phải thích ứng nhanh với quá trình phát triển này.
Trên thực tế, hiệp định thuế đa phương thực chất là một điều ước quốc tế (Convention) đa phương được ký kết nhân danh chính phủ hoặc nhà nước của các bên ký kết. Theo dự thảo hiệp định thuế đa phương được thông qua ngày 20/9/2016, Hiệp định thuế đa phương bao gồm 7 Phần và 39 Điều, quy định hoặc điều chỉnh một số điều khoản chính của các hiệ định thuế song phương như: quy định cụ thể về việc tránh lạm dụng hiệp định; Điều 4 về xác định đối tượng cư trú của vùng lãnh thổ ký kết; Điều 5 về xác định cơ sở thường trú; Điều 23 về các biện pháp tránh đánh thuế hai lần; Điều 26 về thủ tục thỏa thuận song phương; đặc biệt bổ sung quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua cơ chế trọng tài và một số quy định khác về hiệu lực, phê duyệt hoặc phê chuẩn, bảo lưu, sửa đổi và rút khỏi hiệp định thuế đa phương... Theo đó, hiệp định thuế đa phương sẽ sửa đổi bổ sung những hiệp định thuế song phương hiện hành một cách đồng bộ và hiệu quả, nhằm thực hiện nhanh chóng các quy định cần sửa đổi trong hệ thống hiệp định thuế trong dự án BEPS.
Hiện tại, với hệ thống gồm 80 hiệp định thuế với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới (trong đó có 76 hiệp định thuế đã có hiệu lực), Việt Nam đã tạo ra một cơ sở pháp lý và môi trường đầu tư ổn định, minh bạch cho các nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam, cũng như bước đầu thúc đẩy các DN Việt Nam đầu tư ra nước ngoài. Tuy nhiên, sau hơn 25 năm (Hiệp định thuế đầu tiên Việt Nam ký với Australia ngày 13/4/1992 tại Hà Nội), sự phát triển của bản thân nền kinh tế Việt Nam cũng như của kinh tế thế giới, và nhất là xu hướng mở cửa hội nhập của Việt Nam sang các khu vực mới là Châu Phi, Bắc Mỹ và Châu Mỹ la tinh đòi hỏi phải có sự sửa đổi, bổ sung các hiệp định thuế đã ký trước đây cho phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế cũng như vị thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực tế trong thời gian qua, Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) Việt Nam đã nhận được thư của Bộ Tài chính hoặc cơ quan thuế của một số nước/vùng lãnh thổ (như: Bỉ, Hồng Kông, Singapore, Luxembourg, Ấn Độ, Hàn Quốc, ...) đề nghị cập nhật hoặc điều chỉnh một số điều khoản trong hiệp định thuế hiện hành để phù hợp với các tiêu chuẩn mới của OECD, như: cập nhật điều khoản về trao đổi thông tin theo chuẩn mực về trao đổi thông tin của OECD đã được các nước trên thế giới thừa nhận và bổ sung điều khoản về hỗ trợ thu thuế để tăng cường sự hỗ trợ lẫn nhau trong công tác quản lý thuế nói chung và thu thuế nói riêng. Thời gian tới, Tổng cục Thuế có thể sẽ tiếp tục nhận được đề nghị cập nhật/điều chỉnh một số điều khoản trong hiệp định thuế hiện hành của các nước/vùng lãnh thổ khác hoặc sẽ có thư đề nghị đối tác với nội dung tương tự. Bởi theo thống kê trên website chính thức của OECD (http://www.oecd.org/tax/treaties/beps-mli-signatories-and-parties.pdf), tính đến ngày 7/7/2020, có 94 nước và vùng lãnh thổ đã ký kết và 4 nước bày tỏ sự quan tâm tham gia ký hiệp định thuế đa phương, trong đó có cả những nước không phải là thành viên chính thức của tổ chức OECD.
Như vậy, việc xây dựng và ký kết hiệp định thuế đa phương sẽ tránh được việc đàm phán song phương với khoảng hơn 2.000 hiệp định thuế song phương giữa các nước thành viên. Trong khi đó, tính đến ngày 20/7/2020, Việt Nam đã ký kết 76 hiệp định thuế song phương có hiệu lực, trong đó có 55 nước đối tác hiệp định thuế của Việt Nam đã hoặc đang quan tâm tham gia hiệp định thuế đa phương.
Trong nhiều năm qua, Việt Nam cũng đã có nhiều bước tiến quan trọng trong hoàn thiện chính sách pháp luật thuế, nhằm đảm bảo thu hút nguồn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh hội nhập, cũng như đảm bảo nguồn thu vững chắc để phát triển đất nước. Đặc biệt, hệ thống thuế của Việt Nam đã từng bước được cải cách, hiện đại hóa nhằm đáp ứng các đòi hỏi của nền kinh tế, thực tiễn kinh doanh của DN và ngày càng phù hợp với các thông lệ quốc tế.
Theo tiến trình hội nhập, Việt Nam cũng đã tuyên bố chính thức tham gia và trở thành thành viên thứ 100 của Diễn đàn hợp tác thực hiện BEPS (IF) vào tháng 6/2017 và là thành viên thứ 159 của Diễn đàn toàn cầu về trao đổi thông tin về thuế từ ngày 26/12/2019. Cam kết thực hiện các hành động BEPS một cách nhất quán và toàn diện, cũng như các nước thành viên tham gia IF, Việt Nam phải tuân thủ 4 tiêu chuẩn tối thiểu, trong đó tiêu chuẩn ban hành quy định chống lợi dụng hiệp định thuế và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hiệp định thuộc các điều khoản của hiệp định thuế đa phương. Vì vậy, đây không chỉ là hành động thể hiện cam kết quốc tế, mà còn chứng tỏ vai trò tích cực và tính trách nhiệm của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp với cơ quan thuế các nước, đảm bảo môi trường kinh doanh minh bạch và ổn định cho người nộp thuế. Đồng thời, thể hiện được uy tín và vị thế của Việt Nam đối với các nước trên thế giới. Theo hướng này, Việt Nam cần chủ động tham gia các phiên họp Ban chuyên trách của OECD để nắm bắt, hiểu rõ nội dung, ý nghĩa từng điều khoản của hiệp định thuế đa phương, từ đó lựa chọn phương án bảo lưu phù hợp, tiến tới báo cáo Chính phủ xem xét, tham gia ký hiệp định thuế đa phương trong thời gian thích hợp.
ThS Nguyễn Tiến Kiên

TỪ KHOÁ:

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập mã HS gây vướng thủ tục kiểm tra an toàn thực phẩm

Bất cập mã HS gây vướng thủ tục kiểm tra an toàn thực phẩm

Chênh lệch mã số hàng hóa giữa kết quả phân loại của Hải quan và danh mục kiểm tra chuyên ngành khiến doanh nghiệp khó đăng ký kiểm tra hàng nhập khẩu.
Báo cáo quyết toán hải quan sắp đổi “luật chơi”

Báo cáo quyết toán hải quan sắp đổi “luật chơi”

Báo cáo quyết toán hải quan dự kiến được thiết kế lại với các biểu mẫu chi tiết hơn, phân định rõ nguyên liệu đang sản xuất, hàng chưa thực nhập, thực xuất và thành phẩm tồn kho. Điểm mới đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải đối chiếu chặt chẽ dữ liệu khai báo với quá trình quản lý hàng hóa thực tế.
Quản lý cơ sở sản xuất, gia công theo mã số thuế doanh nghiệp

Quản lý cơ sở sản xuất, gia công theo mã số thuế doanh nghiệp

Thông tin về cơ sở sản xuất, cơ sở gia công lại và địa điểm lưu giữ hàng hóa của doanh nghiệp sẽ được tập trung theo mã số thuế trên hệ thống của cơ quan Hải quan. Cách làm này nhằm thống nhất dữ liệu, đồng thời xác định rõ đầu mối cơ quan Hải quan phụ trách từng địa bàn, phục vụ công tác theo dõi và kiểm tra.
Máy bay thuê nước ngoài được chuyển giao tại chỗ khi đổi bên khai thác

Máy bay thuê nước ngoài được chuyển giao tại chỗ khi đổi bên khai thác

Khi thay đổi bên thuê, bên khai thác máy bay thuê từ nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp thực hiện thủ tục tái xuất tại chỗ và tạm nhập tại chỗ, không phải đưa máy bay ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, hàng hóa tạm nhập - tái xuất này không thuộc trường hợp được miễn thuế nhập khẩu theo quy định.
Điều kiện miễn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu tại chỗ

Điều kiện miễn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu tại chỗ

Trước vướng mắc của Công ty TNHH Youngone Bắc Giang về chính sách thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ, Cục Hải quan đã có văn bản trả lời và hướng dẫn cụ thể.
Hàng chuyển phát nhanh là tài liệu, chứng từ không phải định danh điện tử

Hàng chuyển phát nhanh là tài liệu, chứng từ không phải định danh điện tử

Theo Cục Hải quan, việc định danh, xác thực điện tử chỉ áp dụng đối với hàng hóa xuất nhập khẩu nhóm 2; hàng hóa nhóm 1 gồm tài liệu, chứng từ không thuộc diện phải thực hiện. Đồng thời, doanh nghiệp chuyển phát nhanh cần chuẩn bị các điều kiện về thông tin khai báo và kết nối dữ liệu theo quy định mới.
Hàng hóa tái nhập sau sửa chữa, bảo hành có phải ghi nhãn?

Hàng hóa tái nhập sau sửa chữa, bảo hành có phải ghi nhãn?

Hàng hóa tạm xuất, tái nhập sau sửa chữa, bảo hành vẫn thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định về nhãn hàng hóa. Cục Hải quan đã làm rõ nguyên tắc ghi nhãn, đặc biệt đối với linh kiện điện tử có kích thước nhỏ và hàng hóa nhập khẩu đóng gói theo lô.
Hướng dẫn hoàn thuế nguyên vật liệu nhập khẩu tại chỗ trước 1/7/2025

Hướng dẫn hoàn thuế nguyên vật liệu nhập khẩu tại chỗ trước 1/7/2025

Trước vướng mắc của Công ty TNHH Long Vân về hồ sơ chứng minh thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam khi thực hiện hoàn thuế nhập khẩu đối với nguyên vật liệu nhập khẩu tại chỗ trước ngày 1/7/2025, Cục Hải quan đã có công văn hướng dẫn cụ thể.
Doanh nghiệp đổi tên, xử lý thế nào với chứng từ nhập khẩu mang tên cũ?

Doanh nghiệp đổi tên, xử lý thế nào với chứng từ nhập khẩu mang tên cũ?

Trước đề nghị của Công ty TNHH Surventis về thủ tục hải quan sau khi đổi tên, Cục Hải quan hướng dẫn cách xử lý đối với chứng từ thuộc hồ sơ hải quan hàng nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu và giấy chứng nhận kiểm tra chuyên ngành vẫn mang tên doanh nghiệp cũ.
Hoàn thiện khung khổ pháp lý về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan

Hoàn thiện khung khổ pháp lý về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan

Góp ý vào dự thảo Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, 14 doanh nghiệp, hiệp hội đã đề xuất nhiều nội dung liên quan trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu và thực hiện thủ tục hải quan. Trong đó, một số kiến nghị đã được Bộ Tài chính tiếp thu, chỉnh lý nhằm hoàn thiện quy định theo thực tiễn.
Nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh có phải xin giấy phép?

Nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh có phải xin giấy phép?

Cục Hải quan đề nghị cơ quan quản lý chuyên ngành (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) hướng dẫn về yêu cầu giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh, nhằm bảo đảm thống nhất trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan.
Xuất khẩu cát xây dựng thực hiện theo quy định mới từ ngày 1/6/2026

Xuất khẩu cát xây dựng thực hiện theo quy định mới từ ngày 1/6/2026

Cục Hải quan yêu cầu Chi cục Hải quan khu vực XX căn cứ Thông tư số 11/2026/TT-BXD của Bộ Xây dựng để thực hiện thủ tục xuất khẩu cát xây dựng, thay thế quy định tại Thông tư số 04/2021/TT-BXD.
Gạch xây dựng, tấm thạch cao nhập khẩu áp dụng quy định kiểm tra chất lượng nào?

Gạch xây dựng, tấm thạch cao nhập khẩu áp dụng quy định kiểm tra chất lượng nào?

Cục Hải quan đề nghị các Chi cục Hải quan khu vực V và VIII thực hiện hướng dẫn về kiểm tra chất lượng gạch xây dựng, tấm thạch cao nhập khẩu trên cơ sở ý kiến của Bộ Xây dựng, trong đó làm rõ chính sách áp dụng theo thời điểm đăng ký tờ khai và điều kiện giảm kiểm tra đối với hàng hóa rủi ro cao.
Phần mềm nhập khẩu không phải làm thủ tục hải quan

Phần mềm nhập khẩu không phải làm thủ tục hải quan

Cục Hải quan hướng dẫn, phần mềm không có tên gọi và mã số hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam không thực hiện thủ tục hải quan. Trường hợp phần mềm nhập khẩu được chứa trên phương tiện hữu hình như đĩa CD, DVD, USB hoặc phương tiện tương tự, doanh nghiệp phải làm thủ tục hải quan đối với phương tiện chứa đựng, không phải đối với phần mềm.
Thủ tục tạm nhập máy móc giới thiệu sản phẩm cần căn cứ quy định nào?

Thủ tục tạm nhập máy móc giới thiệu sản phẩm cần căn cứ quy định nào?

Trước đề nghị của Công ty TNHH Dịch vụ Thiên Niên Thanh, Cục Hải quan nêu rõ căn cứ pháp lý về chính sách quản lý hàng hóa tạm nhập - tái xuất, thủ tục và hồ sơ hải quan đối với máy móc, thiết bị dùng để giới thiệu sản phẩm, khảo sát thị trường.