![]() |
| TS. Đào Lê Trang Anh |
Phóng viên: Bộ Tài chính đề xuất bổ sung khoản chi y tế, giáo dục - đào tạo được khấu trừ trước khi tính thuế. Theo đó, cá nhân có 1 người phụ thuộc và được tính tối đa các khoản giảm trừ thì thu nhập trên khoảng 28,63 triệu đồng/tháng mới bắt đầu nộp thuế. Bà đánh giá điểm mới này có ý nghĩa như thế nào đối với người làm công ăn lương trong bối cảnh hiện nay?
TS. Đào Lê Trang Anh: Theo tôi, đề xuất của Bộ Tài chính về việc bổ sung chi phí y tế và giáo dục vào các khoản được giảm trừ trước khi tính thuế là một bước điều chỉnh hợp lý và có cơ sở thực tiễn rõ ràng.
Hiện nay, theo Luật thuế TNCN số 109/2025/QH15, mức giảm trừ gia cảnh là 15,5 triệu đồng/tháng cho người nộp thuế và 6,2 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc.
Tuy nhiên, các khoản chi cho giáo dục và y tế vốn chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong ngân sách hộ gia đình lại chưa được phản ánh đầy đủ trong cơ chế tính thuế. Việc cho phép khấu trừ các khoản này giúp thuế TNCN tiệm cận hơn với “thu nhập khả dụng thực tế”, từ đó cải thiện tính công bằng của hệ thống thuế.
Đề xuất nâng ngưỡng bắt đầu chịu thuế lên khoảng 28,63 triệu đồng/tháng (với 1 người phụ thuộc và áp dụng đầy đủ các khoản giảm trừ) có ý nghĩa đáng kể trong bối cảnh chi phí sinh hoạt gia tăng.
Theo Cục Thống kê, lạm phát (CPI) của Việt Nam giai đoạn 2023-2025 duy trì khoảng 3-4%/năm, trong đó chi phí giáo dục và y tế là hai yếu tố quan trọng tác động làm tăng CPI. Dữ liệu của Bộ Y tế cho thấy chi tiêu tiền túi cho y tế của hộ gia đình Việt Nam vẫn chiếm khoảng 40-45% tổng chi y tế, mức tương đối cao so với nhiều quốc gia.
Chi phí giáo dục tại các đô thị lớn cũng tăng nhanh trong nhiều năm gần đây, từ học phí, ngoại ngữ đến các kỹ năng bổ trợ. Trong bối cảnh đó, nếu hệ thống thuế không điều chỉnh tương ứng thì người lao động thực chất đang bị đánh thuế trên phần thu nhập chưa thực sự có khả năng tiết kiệm hay tiêu dùng.
Nhìn chung, chính sách này không chỉ giúp giảm gánh nặng tài chính trước mắt cho người làm công ăn lương mà còn có ý nghĩa dài hạn khi khuyến khích đầu tư vào giáo dục và sức khỏe, hai trụ cột của vốn con người.
Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả, cần thiết kế cơ chế thực thi minh bạch, kiểm soát tốt chứng từ và đánh giá tác động phân phối, nhằm đảm bảo chính sách hỗ trợ đúng đối tượng và không làm gia tăng bất bình đẳng trong hệ thống thuế.
Phóng viên: Thực tế hiện nay, áp lực chi tiêu của nhiều gia đình tập trung chủ yếu vào giáo dục, chăm sóc sức khỏe và nuôi con. Việc đưa các khoản chi thiết yếu này vào diện được giảm trừ thể hiện sự thay đổi như thế nào trong cách tiếp cận chính sách thuế TNCN?
TS. Đào Lê Trang Anh: Việc đưa các khoản chi cho giáo dục, chăm sóc sức khỏe và nuôi con vào diện được giảm trừ khi tính thuế TNCN phản ánh một sự thay đổi mang tính nền tảng trong cách tiếp cận chính sách thuế của Việt Nam. Trước đây, thuế TNCN chủ yếu được thiết kế dựa trên thu nhập danh nghĩa, tức là cá nhân có thu nhập thì áp dụng biểu thuế tương ứng.
Tuy nhiên, cách tiếp cận mới đang chuyển dần sang đánh giá khả năng nộp thuế thực tế, nghĩa là chỉ đánh thuế trên phần thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi các chi phí thiết yếu để duy trì mức sống cơ bản.
Điều này giúp chính sách thuế phản ánh sát hơn thực tế chi tiêu của hộ gia đình, đặc biệt trong bối cảnh các khoản chi cho giáo dục, y tế và nuôi con ngày càng chiếm tỷ trọng lớn.
Cách tiếp cận này cũng phù hợp với thông lệ quốc tế, khi nhiều nền kinh tế phát triển coi các khoản chi cho giáo dục, chăm sóc sức khỏe và nuôi con không chỉ là tiêu dùng cá nhân mà còn là đầu tư cho vốn con người và an sinh xã hội.
![]() |
| Việc mở rộng giảm trừ cho cả chi phí y tế và giáo dục giúp chính sách thuế phản ánh sát hơn thực tế chi tiêu của hộ gia đình. |
Theo báo cáo Taxing Wages (Đánh thuế tiền lương) 2025 của OECD, các khoản giảm trừ và tín dụng thuế liên quan đến gia đình, con cái và chi phí thiết yếu đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao tính công bằng của hệ thống thuế, đồng thời hỗ trợ thu nhập sau thuế của người lao động, đặc biệt là các hộ gia đình có người phụ thuộc.
Do đó, có thể thấy đề xuất mới của Bộ Tài chính là tín hiệu tích cực cho thấy chính sách thuế TNCN đang từng bước tiệm cận với chuẩn mực quốc tế, đồng thời phản ánh sát hơn áp lực tài chính thực tế của các gia đình hiện nay.
Phóng viên: Dự thảo lần này cũng mở rộng thêm nhiều khoản không tính vào thu nhập chịu thuế như tiền ăn giữa ca, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc, bảo hiểm hưu trí… Theo bà, các đề xuất này sẽ tác động thế nào đến tâm lý và khả năng tích lũy của người lao động?
TS. Đào Lê Trang Anh: Các đề xuất mở rộng các khoản không tính vào thu nhập chịu thuế như tiền ăn giữa ca, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc hay bảo hiểm hưu trí phản ánh một bước điều chỉnh quan trọng theo hướng bảo vệ thu nhập thực của người lao động.
Các khoản thu nhập này về bản chất không mang tính tích lũy thường xuyên mà có chức năng hỗ trợ đời sống hoặc bù đắp rủi ro trong những giai đoạn khó khăn của vòng đời lao động.
Do đó, việc miễn thuế đối với các khoản này giúp đảm bảo người lao động được hưởng trọn vẹn các khoản hỗ trợ, thay vì bị bào mòn một phần bởi nghĩa vụ thuế.
Về mặt tâm lý, chính sách này có tác động tích cực trong việc củng cố niềm tin và cảm nhận công bằng của người nộp thuế. Khi người lao động thấy rằng hệ thống thuế phân biệt rõ giữa thu nhập mang tính tiền lương và các khoản hỗ trợ an sinh, họ sẽ có xu hướng đánh giá chính sách là hợp lý và nhân văn hơn.
Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thị trường lao động có nhiều biến động, khi các rủi ro như mất việc làm, gián đoạn thu nhập hay chi phí sinh hoạt tăng cao ngày càng trở nên hiện hữu.
Ở góc độ tích lũy, việc không đánh thuế các khoản như bảo hiểm hưu trí hay trợ cấp thôi việc có thể tạo động lực rõ rệt cho hành vi tiết kiệm dài hạn.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, ưu đãi thuế đối với các khoản tiết kiệm hưu trí là một trong những công cụ hiệu quả để khuyến khích người lao động chuẩn bị tài chính cho tương lai, qua đó giảm áp lực lên hệ thống an sinh xã hội.
Do đó, nếu được thiết kế hợp lý, các đề xuất này không chỉ hỗ trợ thu nhập hiện tại mà còn góp phần cải thiện khả năng tích lũy và ổn định tài chính của người lao động trong dài hạn.
Phóng viên: Nhiều ý kiến đánh giá việc nâng ngưỡng giảm trừ và bổ sung các khoản khấu trừ cho y tế, giáo dục là bước đi theo hướng tiệm cận hơn với thực tế đời sống. Để chính sách phát huy hiệu quả khi triển khai, theo bà chính sách cần lưu ý những vấn đề gì?
TS. Đào Lê Trang Anh: Việc nâng ngưỡng giảm trừ gia cảnh và bổ sung các khoản khấu trừ cho y tế, giáo dục là một xu hướng điều chỉnh chính sách thuế phù hợp với thực tiễn chi phí sinh hoạt ngày càng tăng. Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả khi triển khai thì cần lưu ý một số vấn đề.
Một là: Cần quy định rõ ràng và có giới hạn đối với các khoản được khấu trừ để đảm bảo chính sách vừa hiệu quả vừa tránh bị lạm dụng. Tại Mỹ, chi phí y tế chỉ được khấu trừ khi vượt ngưỡng 7,5% thu nhập đã điều chỉnh, qua đó giúp chính sách tập trung hỗ trợ đúng nhóm có gánh nặng chi phí cao, đồng thời hạn chế tình trạng tối ưu hóa thuế không hợp lý.
Hai là: Cần bảo đảm hệ thống thuế được thiết kế theo hướng đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện để giảm chi phí tuân thủ cho người nộp thuế. Khi số lượng khoản khấu trừ quá nhiều, hệ thống thuế trở nên phức tạp hơn, làm tăng gánh nặng kê khai và dễ gây sai sót trong thực hiện, đặc biệt đối với nhóm thu nhập trung bình và thấp, những đối tượng thường ít có điều kiện tiếp cận các dịch vụ tư vấn thuế chuyên sâu.
Ba là: Cần bảo đảm sự cân đối giữa mục tiêu hỗ trợ người nộp thuế và khả năng duy trì nguồn thu ngân sách ổn định. Việc mở rộng các khoản giảm trừ có thể làm giảm nguồn thu thuế trong ngắn hạn, do đó cần đi kèm với cải cách quản lý thuế nhằm nâng cao hiệu quả thu và bù đắp phần sụt giảm này, qua đó bảo đảm tính bền vững tài khóa.
Đồng thời, đẩy mạnh số hóa dữ liệu trong lĩnh vực thuế, y tế và giáo dục sẽ là điều kiện quan trọng để tăng tính minh bạch, giảm gian lận và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách trên thực tế.
Trân trọng cảm ơn!