![]() |
| Việc phân tích giao dịch liên kết không chỉ dựa trên hợp đồng hay hình thức pháp lý, mà phải căn cứ vào thực tế hoạt động của doanh nghiệp. Ảnh: TL. |
Chuyển mạnh sang quản lý thuế theo bản chất giao dịch
Có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 và áp dụng từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2026, Nghị định số 255/2026/NĐ-CP được ban hành nhằm bảo đảm thống nhất với Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 và Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2025, đồng thời cập nhật nhiều quy định về quản lý giao dịch liên kết trong bối cảnh hoạt động đầu tư xuyên biên giới và các tập đoàn đa quốc gia ngày càng phát triển.
Theo Deloitte Việt Nam, về tổng thể, Nghị định số 255/2026/NĐ-CP tiếp tục kế thừa khung quản lý giá giao dịch liên kết hiện hành, bao gồm nguyên tắc giao dịch độc lập, các phương pháp xác định giá, nghĩa vụ kê khai, lập và lưu giữ hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết cũng như cơ chế khống chế chi phí lãi vay được trừ.
Tuy nhiên, nhiều quy định đã được sửa đổi, bổ sung nhằm làm rõ phạm vi áp dụng, tăng tính minh bạch và giảm gánh nặng tuân thủ đối với doanh nghiệp có mức độ rủi ro thấp.
Điểm nổi bật của Nghị định số 255/2026/NĐ-CP là sự thay đổi trong cách tiếp cận quản lý.
Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là kiểm soát hồ sơ và xác định giá giao dịch thì nay quy định mới đã nhấn mạnh nguyên tắc quản lý dựa trên bản chất kinh tế của giao dịch, nguyên tắc giao dịch độc lập, quản lý theo rủi ro và mức độ tuân thủ của người nộp thuế.
Theo quy định, người nộp thuế phải loại trừ các yếu tố làm giảm nghĩa vụ thuế do quan hệ liên kết chi phối để xác định nghĩa vụ thuế tương đương với các giao dịch độc lập có cùng điều kiện.
Một thay đổi quan trọng khác là việc phân tích giao dịch liên kết không chỉ dựa trên hợp đồng hay hình thức pháp lý mà phải căn cứ vào thực tế hoạt động.
Trường hợp thỏa thuận giữa các bên không phản ánh đúng bản chất kinh doanh hoặc không phù hợp với nguyên tắc giao dịch độc lập, cơ quan Thuế có thể xem xét toàn bộ quá trình thực hiện giao dịch để xác định lại nghĩa vụ thuế.
Nghị định số 255/2026/NĐ-CP cũng dành nhiều quy định cho việc phân tích chức năng, tài sản và rủi ro của từng doanh nghiệp trong chuỗi giá trị.
Theo Deloitte Việt Nam, đối với tài sản vô hình, việc xác định giá trị không chỉ căn cứ vào quyền sở hữu pháp lý mà còn xem xét toàn bộ quá trình hình thành, phát triển, khai thác và bảo hộ tài sản.
Cách tiếp cận này tương đồng với các khuyến nghị của OECD trong Chương trình chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (BEPS), góp phần hạn chế việc phân bổ lợi nhuận không phù hợp với giá trị thực tế được tạo ra tại từng quốc gia.
Ngoài việc thay đổi nguyên tắc quản lý, Nghị định số 255/2026/NĐ-CP còn làm rõ hơn phạm vi xác định các bên có quan hệ liên kết.
Đáng chú ý, quy định đã bổ sung các trường hợp ngoại lệ đối với quan hệ bảo lãnh, cho vay của tổ chức tín dụng khi không tham gia điều hành hoặc kiểm soát doanh nghiệp; đồng thời quy định cụ thể hơn đối với các giao dịch vay, cho vay, mượn hoặc cho mượn giữa doanh nghiệp với cá nhân có quan hệ điều hành.
Những điều chỉnh này được Deloitte Việt Nam đánh giá là giúp doanh nghiệp dễ xác định phạm vi áp dụng hơn, đồng thời hạn chế các cách hiểu khác nhau trong quá trình thực hiện.
Giảm gánh nặng tuân thủ, tăng minh bạch theo chuẩn quốc tế
Một trong những vấn đề mà Nghị định số 255/2026/NĐ-CP đươc cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao dó là đã bổ sung nhiều quy định theo hướng giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, đồng thời tăng tính minh bạch trong quản lý thuế đối với giao dịch liên kết.
Đại diện Deloitte Việt Nam chia sẻ, ngưỡng doanh thu để được xem xét miễn lập hồ sơ được nâng từ 200 tỷ đồng lên 500 tỷ đồng đối với doanh nghiệp đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Đây là bước điều chỉnh theo hướng giảm gánh nặng tuân thủ cho nhóm doanh nghiệp có rủi ro thấp, đồng thời giúp cơ quan thuế tập trung nguồn lực vào các giao dịch có rủi ro cao hơn.
Bên cạnh đó, Nghị định số 255/2026/NĐ-CP cũng điều chỉnh quy định về thời hạn cung cấp hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết.
Theo đó, thay vì quy định riêng thời hạn cung cấp hồ sơ khi cơ quan thuế kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp như trước đây, việc cung cấp hồ sơ sẽ thực hiện theo quy định chung của pháp luật về kiểm tra thuế.
Riêng trường hợp tham vấn trước kiểm tra, thời hạn nộp hồ sơ và gia hạn vẫn được kế thừa từ Nghị định 132/2020/NĐ-CP.
Sự thay đổi này góp phần đồng bộ với Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, đồng thời giảm bớt các quy định chồng chéo trong quá trình thực hiện.
Một nội dung mới khác là quy định rõ thứ tự ưu tiên đối với nguồn dữ liệu phục vụ phân tích so sánh. Theo đó, dữ liệu công khai chính thức như thông tin từ thị trường chứng khoán, cơ sở dữ liệu quốc gia hoặc cơ quan nhà nước sẽ được ưu tiên sử dụng trước; tiếp đến là cơ sở dữ liệu thương mại và cuối cùng mới đến cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế.
Phân tích về vấn đề này, đại diện PwC Việt Nam cho rằng, quy định này phản ánh định hướng sử dụng các nguồn dữ liệu minh bạch, độc lập và có thể kiểm chứng, qua đó nâng cao khả năng giải trình của doanh nghiệp khi xây dựng hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết.
Việc xác lập rõ thứ tự ưu tiên nguồn dữ liệu cũng sẽ góp phần hạn chế những cách hiểu khác nhau giữa doanh nghiệp và cơ quan thuế trong quá trình phân tích so sánh.
Đặc biệt, Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia (CbCR) tại Nghị định số 255/2026/NĐ-CP có nhiều điều chỉnh theo hướng tiệm cận thông lệ quốc tế.
Ngưỡng doanh thu hợp nhất của tập đoàn đa quốc gia được xác định theo mức 750 triệu EUR, thay cho ngưỡng quy đổi bằng đồng Việt Nam trước đây.
PwC Việt Nam nhấn mạnh, các quy định mới đã cụ thể hóa những trường hợp doanh nghiệp tại Việt Nam phát sinh hoặc không phát sinh nghĩa vụ nộp CbCR, thay vì quy định ở mức khái quát như trước.
Điều này giúp doanh nghiệp có cơ sở rõ ràng hơn để đánh giá nghĩa vụ báo cáo, đồng thời đòi hỏi phải theo dõi chặt chẽ cơ chế trao đổi thông tin giữa Việt Nam với các quốc gia, vùng lãnh thổ cũng như tăng cường phối hợp với bộ phận thuế của tập đoàn đa quốc gia.
Theo đánh giá của các doanh nghiệp, việc cơ quan Thuế từng bước công bố tỷ suất lợi nhuận theo ngành để doanh nghiệp tự đánh giá rủi ro sẽ góp phần nâng cao chất lượng kê khai, giảm tranh chấp và hạn chế các cuộc thanh tra, kiểm tra không cần thiết. Đây cũng là xu hướng quản lý thuế hiện đại, chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa vào kiểm tra sang hỗ trợ người nộp thuế tuân thủ ngay từ đầu.