| INFOGRAPHIC: Cách tính thuế từ hoạt động cho thuê bất động sản Ngành Thuế hướng tới mô hình "Zero-touch" và quản trị dựa trên dữ liệu |
Xác định rõ địa bàn đầu tư được hưởng ưu đãi
Khi doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ hoặc doanh nghiệp công nghệ cân nhắc đầu tư vào khu công nghiệp tại các địa bàn “khó khăn”, điều quan trọng không chỉ nằm ở chính sách ưu đãi, mà còn ở việc doanh nghiệp xác định chính xác địa bàn đầu tư, tổ chức hạch toán và thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý để được hưởng đúng và đủ ưu đãi thuế.
Theo khoản 3, Điều 16 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ, doanh nghiệp được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trong 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo đối với thu nhập từ dự án đầu tư mới được quy định tại Nghị định này và thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại khu công nghiệp (trừ khu công nghiệp nằm trên địa bàn có điều kiện - kinh tế xã hội thuận lợi).
![]() |
| Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ cần xác định rõ địa bàn được ưu đãi thuế |
Theo quy định, địa bàn có điều kiện - kinh tế xã hội không thuận lợi là khu vực nằm ngoài các quận nội thành của đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I trực thuộc Trung ương và các đô thị loại I trực thuộc tỉnh, không bao gồm các quận của đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I trực thuộc Trung ương và các đô thị loại I trực thuộc tỉnh mới được thành lập từ huyện kể từ ngày 1/1/2009.
Trong trường hợp khu công nghiệp nằm trên cả địa bàn thuận lợi và địa bàn không thuận lợi thì việc xác định ưu đãi thuế đối với khu công nghiệp căn cứ vào vị trí thực tế của dự án đầu tư trên thực địa; đồng thời việc xác định đô thị loại đặc biệt, loại I được thực hiện theo quy định của Chính phủ quy định về phân loại đô thị.
Bên cạnh đó, Điều 19 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP cũng nêu rõ dự án đầu tư mới bao gồm cả văn phòng công chứng thành lập tại các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng ưu đãi thuế quy định là dự án thực hiện lần đầu hoặc dự án đầu tư độc lập với dự án đang thực hiện.
Tuy nhiên, chính sách ưu đãi thuế không được áp dụng với một số trường hợp như: Dự án đầu tư hình thành từ việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; dự án đầu tư hình thành từ việc chuyển đổi chủ sở hữu.
Đồng thời, để được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), dự án đầu tư mới được hưởng ưu đãi thuế theo quy định phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu tư hoặc được phép đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư.
Thời gian miễn, giảm thuế linh hoạt
Thời gian miễn, giảm thuế TNDN đối với trường hợp này được quy định tại khoản 4 Điều 16 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP của Chính phủ một cách linh hoạt.
Theo đó, thời gian miễn, giảm thuế được tính liên tục từ năm đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư mới được hưởng ưu đãi thuế. Trong trường hợp doanh nghiệp không có thu nhập chịu thuế trong 3 năm đầu, kể từ năm đầu tiên có doanh thu từ dự án đầu tư mới thì thời gian miễn, giảm thuế được tính từ năm thứ tư.
Đối với doanh nghiệp công nghệ cao hoặc doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thời gian miễn, giảm thuế được xác định từ thời điểm doanh nghiệp được công nhận là doanh nghiệp công nghệ cao hoặc doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Trong thực tế, nếu trong kỳ tính thuế đầu tiên mà dự án đầu tư mới của doanh nghiệp có thời gian hoạt động sản xuất, kinh doanh được miễn, giảm thuế dưới 12 tháng, doanh nghiệp được lựa chọn hưởng miễn, giảm thuế đối với dự án đầu tư mới ngay kỳ tính thuế đó hoặc đăng ký với cơ quan thuế thời gian bắt đầu được miễn, giảm thuế từ kỳ tính thuế tiếp theo.
Khi doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ hoặc doanh nghiệp công nghệ cân nhắc đầu tư vào khu công nghiệp tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, để hưởng ưu đãi về thuế, doanh nghiệp cần chuẩn bị hồ sơ, tổ chức sản xuất - kinh doanh và thực hiện kê khai, hạch toán để được hưởng các ưu đãi theo quy định.
Từ ngày 1/10/2025, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 của Quốc hội bắt đầu có hiệu lực. Theo điều khoản chuyển tiếp của Luật thuế TNDN, doanh nghiệp có dự án đầu tư được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật về thuế TNDN tại thời điểm cấp phép hoặc cấp Giấy chứng nhận đầu tư hoặc được phép đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư.
Trong trường hợp pháp luật về thuế TNDN có sửa đổi, bổ sung mà doanh nghiệp đáp ứng điều kiện ưu đãi thuế theo quy định của pháp luật mới được sửa đổi, bổ sung thì doanh nghiệp được quyền lựa chọn hưởng ưu đãi về thuế suất và về thời gian miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp phép, cấp Giấy chứng nhận đầu tư, được phép đầu tư hoặc theo quy định của pháp luật mới được sửa đổi, bổ sung cho thời gian còn lại.
Ngoài ra, trường hợp doanh nghiệp có dự án đầu tư mà không thuộc diện được hưởng ưu đãi theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật về thuế TNDN trước thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành, nhưng thuộc diện hưởng ưu đãi theo quy định của Luật này thì được áp dụng ưu đãi theo quy định của Luật mới cho thời gian còn lại kể từ kỳ tính thuế năm 2025.
Để chính sách hỗ trợ thực sự chạm tới doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, cần có sự hướng dẫn kịp thời của cơ quan quản lý và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan. Qua đó sẽ góp phần bảo đảm chính sách ưu đãi thuế được triển khai đúng mục tiêu, tạo động lực thúc đẩy phát triển sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.