![]() |
| Xuất khẩu sang Trung Quốc mở ra dư địa cho hàng hóa Việt Nam, song lợi thế về khoảng cách địa lý không bảo đảm giao dịch an toàn. Ảnh: Tư liệu. |
Không để lợi thế thị trường trở thành rủi ro giao dịch
Cơ hội xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc chỉ chuyển hóa thành hiệu quả kinh doanh khi doanh nghiệp kiểm soát được rủi ro từ khâu giao dịch. Một đối tác có giá hấp dẫn, cam kết giao hàng nhanh chưa đủ bảo đảm an toàn nếu thiếu quy trình xác minh, điều khoản hợp đồng chặt chẽ và cơ chế kiểm soát thanh toán.
Với kinh nghiệm làm việc tại thị trường Trung Quốc từ năm 2022, ông Đặng Đình Long, Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư thương mại Maga A, cảnh báo thủ đoạn giả mạo email để thay đổi tài khoản thụ hưởng. Địa chỉ email của đối tượng có thể chỉ khác đối tác thật một ký tự. Lợi dụng thời điểm doanh nghiệp chuẩn bị thanh toán, kẻ gian thông báo tài khoản cũ gặp sự cố, yêu cầu chuyển tiền sang tài khoản mới.
Khi nhận thông báo thay đổi tài khoản, doanh nghiệp cần dừng lệnh chi, xác minh qua kênh liên lạc độc lập đã thiết lập từ trước, đối chiếu pháp nhân, số tài khoản và căn cứ ủy quyền. Người lập lệnh và người phê duyệt thanh toán cần được phân tách; hộp thư điện tử cũng phải được bảo vệ bằng xác thực đa lớp. Nếu phát hiện bất thường sau khi chuyển tiền, cần nhanh chóng liên hệ với ngân hàng để phối hợp xử lý.
Theo ông Đặng Đình Long, rủi ro còn phát sinh khi doanh nghiệp tìm kiếm đối tác qua các nền tảng B2B như Alibaba.com, 1688 nhưng chuyển sang đàm phán hoặc thanh toán ngoài hệ thống. Việc này có thể khiến doanh nghiệp mất đi một số cơ chế bảo vệ giao dịch, đồng thời gia tăng khó khăn trong xác minh đối tác, lưu giữ bằng chứng và xử lý tranh chấp khi xảy ra sự cố.
Doanh nghiệp cần thẩm định đối tác trước khi đặt cọc, kiểm tra tư cách pháp nhân, người đại diện, năng lực thực hiện hợp đồng, lịch sử hoạt động và tính hợp lệ của tài khoản nhận tiền. Khi đối tác đề nghị thay đổi giá hoặc điều kiện giao hàng, cần yêu cầu căn cứ rõ ràng, đối chiếu hợp đồng và không vội chuyển thêm tiền khi chưa xác minh được thông tin.
Ở chiều xuất khẩu, phương thức thanh toán ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hồi tiền hàng. PGS.TS. Đặng Thị Nhàn, Trường Đại học Ngoại thương cho biết, điều kiện thanh toán quốc tế cần được xem xét trên ba phương diện: đồng tiền, thời điểm và phương thức thanh toán. Mỗi lựa chọn đều gắn với rủi ro riêng, từ biến động tỷ giá đến nguy cơ chậm trả, không thanh toán hoặc gian lận chứng từ.
Không có phương thức thanh toán nào an toàn tuyệt đối trong mọi trường hợp. Thanh toán trước có lợi hơn cho người xuất khẩu về khả năng thu tiền, trong khi trả chậm khiến người bán chịu rủi ro lớn hơn. Với giao dịch trả chậm, doanh nghiệp có thể cân nhắc yêu cầu bảo lãnh thanh toán từ ngân hàng, đồng thời quy định rõ điều kiện thực hiện bảo lãnh.
Với phương thức tín dụng chứng từ (L/C), doanh nghiệp cần xác minh tính xác thực của thư tín dụng, đánh giá ngân hàng phát hành và rà soát các điều khoản. Bộ chứng từ phải phù hợp với L/C và quy tắc áp dụng, trong đó có UCP 600 và ISBP 821. Đối với nhờ thu, doanh nghiệp cũng cần hiểu rằng ngân hàng không bảo đảm người mua sẽ thanh toán.
PGS.TS. Đặng Thị Nhàn nhấn mạnh, hợp đồng là căn cứ quan trọng để bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp khi xảy ra tranh chấp. Bà Nhàn dẫn chứng trường hợp một doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu muối sang Trung Quốc theo hợp đồng trị giá 120.000 USD. Khi giá muối thị trường giảm, bên mua viện dẫn vấn đề chất lượng để từ chối thanh toán, đồng thời gây sức ép giảm giá. Doanh nghiệp Việt Nam sau đó thắng kiện tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC). Việc thỏa thuận rõ giá trị của kết quả giám định tại cảng Hải Phòng và cơ quan giải quyết tranh chấp ngay từ đầu đã góp phần quan trọng giúp doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi.
Bài học đặt ra là hợp đồng cần quy định cụ thể tiêu chuẩn chất lượng, phương thức kiểm định, thời hạn thanh toán, trách nhiệm các bên và cơ chế giải quyết tranh chấp. Đây không phải thủ tục hình thức, mà là căn cứ để doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi khi phát sinh bất đồng.
Chủ động kiểm soát chất lượng và chuỗi logistics xuất khẩu
Sau khi thống nhất đối tác và điều kiện thanh toán, doanh nghiệp vẫn có thể gặp rủi ro nếu chất lượng hàng hóa, chứng từ và phương án vận tải không được kiểm soát đồng bộ. Với tuyến Việt Nam - Trung Quốc, tiến độ giao hàng còn chịu tác động của thủ tục thông quan, năng lực phương tiện, đặc điểm mặt hàng và tình trạng cửa khẩu.
![]() |
| Doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy xử lý sự cố sang chủ động phòng ngừa khi xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Ảnh: Minh họa có sự hỗ trợ từ AI. |
Từ thực tiễn vận tải biên giới, bà Lưu Thị Bính, đại diện Chi nhánh Lạng Sơn - Công ty cổ phần Giao nhận Vận tải Con Ong (Bee Logistics), chỉ ra ba nhóm rủi ro chính: thủ tục thông quan; chứng từ, thủ tục pháp lý; năng lực vận tải và kiểm soát chi phí. Theo bà Bính, doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy xử lý sự cố sang chủ động phòng ngừa.
Trước khi phương tiện khởi hành, chủ hàng, nhà cung cấp và đơn vị logistics cần phối hợp kiểm tra hóa đơn thương mại (Invoice), phiếu đóng gói (Packing List), mã HS, chứng nhận xuất xứ (C/O) và giấy phép chuyên ngành nếu có. Những sai sót cần được xử lý trước khi hàng đến cửa khẩu, tránh phát sinh chi phí, kéo dài thời gian thông quan và làm gián đoạn kế hoạch giao hàng.
Kiểm soát chất lượng cũng phải xuyên suốt, từ thống nhất quy cách, thông số kỹ thuật, bao bì, nhãn mác đến kiểm tra trước khi xuất hàng và xác nhận khi giao nhận. Hồ sơ kiểm định, hình ảnh hàng hóa, biên bản giao nhận và trao đổi giữa các bên cần được lưu giữ đầy đủ. Khi có khiếu nại, đây là căn cứ xác định tình trạng hàng hóa và làm rõ trách nhiệm.
Theo bà Lưu Thị Bính, doanh nghiệp không nên chỉ so sánh giá cước hoặc quãng đường mà cần tính tổng chi phí toàn hành trình gồm: vận chuyển, thủ tục cửa khẩu, sang tải, thông quan và chi phí do chậm tiến độ. Giá cước thấp chưa chắc đem lại hiệu quả nếu nguy cơ ách tắc khiến hàng giao muộn. Doanh nghiệp cần xây dựng phương án vận tải dự phòng, xác định các mốc kiểm tra và thống nhất cơ chế phối hợp khi xảy ra sự cố.
Năng lực ứng phó còn phụ thuộc vào sự phối hợp giữa các bộ phận. Kinh doanh phải nắm điều kiện hợp đồng; tài chính kiểm soát thanh toán; bộ phận xuất nhập khẩu rà soát chứng từ; đơn vị logistics cần được tham gia sớm để đánh giá khả năng vận chuyển và thông quan. Việc giao hàng hoặc chuyển bộ chứng từ cần gắn với điều kiện thanh toán đã thống nhất, tránh để doanh nghiệp mất quyền kiểm soát khi nghĩa vụ của đối tác chưa được thực hiện đầy đủ.
Vì vậy, mở rộng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc không chỉ là tìm kiếm khách hàng và gia tăng đơn hàng. Năng lực cạnh tranh còn thể hiện ở khả năng bảo toàn dòng tiền, thực hiện đúng cam kết, kiểm soát chất lượng và duy trì tiến độ giao hàng. Chủ động thẩm định đối tác, hoàn thiện hợp đồng và liên kết chặt các khâu sẽ giúp doanh nghiệp hạn chế tổn thất, biến lợi thế thị trường thành hiệu quả kinh doanh bền vững.