Yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn
Trong kỷ nguyên kinh tế số, thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam không còn là phương thức mua sắm bổ trợ mà đã trở thành động lực tăng trưởng chính của toàn ngành dịch vụ.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật Hải quan 2014 đang bộc lộ những bất cập khi đối diện với các mô hình giao dịch xuyên biên giới phát triển với tốc độ phi mã. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay chính là sự thiếu hụt một hành lang pháp lý riêng biệt, đồng bộ dành cho thủ tục hải quan đối với hàng hóa giao dịch qua nền tảng điện tử.
![]() |
| Hoạt động nghiệp vụ của cơ quan Hải quan. Ảnh: H.Nụ |
Việc không có quy định chuyên biệt khiến cơ quan quản lý và doanh nghiệp thường xuyên rơi vào tình trạng phải vận dụng các quy định chung một cách thiếu thống nhất, gây ra những khó khăn trong chuẩn hóa quy trình thông quan và quản lý thuế.
Ông Kim Long Biên, Trưởng Ban Pháp chế (Cục Hải quan) đánh giá, hoạt động TMĐT xuyên biên giới phát triển nhanh nhưng chưa có khung pháp lý riêng cho thủ tục hải quan, dẫn đến nhiều bất cập trong quản lý và khó khăn cho doanh nghiệp.
Theo ông Kim Long Biên, chính việc thiếu vắng các quy định riêng biệt liên quan đến thủ tục đối với hàng hóa qua nền tảng TMĐT đã khiến thủ tục hải quan trong nhiều trường hợp phải thực hiện theo những quy định khác nhau, tùy thuộc vào sự vận dụng luật pháp về hải quan hiện hành. Hệ quả trực tiếp là tính minh bạch và khả năng dự báo của chính sách bị hạn chế, vô hình trung tạo áp lực lên cả hệ thống giám sát lẫn chi phí tuân thủ của các bên liên quan trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Đặc thù của TMĐT xuyên biên giới là sự tham gia của các chủ thể mới như sàn giao dịch, đơn vị vận chuyển chuyển phát nhanh và các nền tảng thanh toán quốc tế với hàng triệu giao dịch nhỏ lẻ mỗi ngày. Sự thiếu vắng các chế định về trách nhiệm cung cấp thông tin của các đối tượng này trong luật hiện hành đã khiến công tác kiểm soát rủi ro gặp nhiều trở ngại đáng kể.
Cơ quan Hải quan thiếu dữ liệu nguồn từ sớm để phân tích, đánh giá, tạo kẽ hở cho các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại hoặc lợi dụng chính sách miễn thuế đối với hàng giá trị nhỏ để chia nhỏ đơn hàng nhằm trốn tránh nghĩa vụ thuế. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp bách về một cuộc cải cách pháp lý mang tính nền tảng để chuẩn hóa mọi mắt xích trong chuỗi cung ứng, đảm bảo tính nghiêm minh và hiệu quả quản lý nhà nước.
Chiến lược chuyển đổi tư duy quản lý
Để hóa giải những bất cập mang tính hệ thống, việc nghiên cứu bổ sung quy định nguyên tắc quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng TMĐT là bước đi mang tính chiến lược trong định hướng sửa đổi Luật Hải quan.
Dự thảo Luật Hải quan sửa đổi đã chú trọng đặc biệt vào việc bổ sung Điều 16a, một điều khoản bản lề quy định trực tiếp về kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa trong lĩnh vực này.
Việc luật hóa các nguyên tắc quản lý không chỉ đơn thuần là lấp đầy lỗ hổng pháp lý mà còn hướng tới mục tiêu thiết lập một môi trường kinh doanh bình đẳng và minh bạch cho mọi thành phần kinh tế. Cơ chế mới này cho phép cơ quan Hải quan chuyển dịch mạnh mẽ từ phương thức quản lý truyền thống sang quản lý dựa trên dữ liệu số và quản lý rủi ro hiện đại, giúp rút ngắn thời gian thông quan nhưng vẫn đảm bảo sự kiểm soát chặt chẽ.
Hiệu quả của việc định hình khung pháp lý và minh bạch hóa thủ tục đã được chứng minh rõ nét qua những con số thực tiễn về ngân sách trong thời gian qua. Sau một năm triển khai các biện pháp tăng cường quản lý, số thu thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa trị giá nhỏ qua dịch vụ chuyển phát nhanh đã đạt con số ấn tượng 1.720 tỷ đồng. Đà tăng trưởng này tiếp tục duy trì mạnh mẽ trong giai đoạn đầu năm 2026 khi chỉ trong vòng chưa đầy 3 tháng, số thu thuế giá trị gia tăng đối với hàng trị giá thấp gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh đã đạt 240 tỷ đồng.
Những số liệu này là minh chứng đắt giá cho thấy quy mô khổng lồ của thị trường và khẳng định tầm quan trọng của việc xác lập một hành lang pháp lý vững chắc nhằm tránh thất thu ngân sách quốc gia từ các giao dịch siêu nhỏ nhưng có tần suất giao dịch cực lớn.
Đánh giá về tầm nhìn dài hạn của việc sửa đổi luật, ông Kim Long Biên khẳng định, TMĐT là xu hướng tất yếu trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới. Với tốc độ tăng trưởng cao của TMĐT những năm vừa qua đòi hỏi cơ chế chính sách quản lý của các cơ quan nhà nước cũng phải thay đổi phù hợp với phát triển hoạt động của TMĐT, đặc biệt là đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.
Việc Dự thảo Luật Hải quan bổ sung Điều 16a quy định về kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng TMĐT chính là nhằm đảm bảo đầy đủ cơ sở pháp lý, tạo thuận lợi cho quá trình triển khai thực hiện quản lý thực tế một cách đồng bộ và hiện đại hóa thủ tục hành chính.
Việc hoàn thiện khung pháp lý còn mang ý nghĩa bảo hộ nền sản xuất nội địa và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước các làn sóng hàng hóa ngoại nhập không kiểm soát.
Khi có quy định rõ ràng, các mặt hàng không rõ nguồn gốc hoặc hàng giả len lỏi qua các nền tảng xuyên biên giới sẽ bị kiểm soát chặt chẽ hơn thông qua hệ thống định danh chính xác các chủ thể giao dịch và sự kết nối dữ liệu trực tiếp giữa sàn TMĐT với cơ quan Hải quan. Đảm bảo đầy đủ cơ sở pháp lý và thuận lợi cho quản lý hải quan đối với hàng hóa qua nền tảng TMĐT chính là chìa khóa để Việt Nam tận dụng tối đa cơ hội từ nền kinh tế số, đồng thời giữ vững an ninh kinh tế và chủ quyền quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và thực chất.