![]() |
| Nghĩa vụ thuế với trợ cấp thôi việc phụ thuộc vào tính chất từng khoản tiền, căn cứ chi trả và hồ sơ liên quan. Ảnh minh họa: Minh Huyền. |
Việc doanh nghiệp chi tiền cho người lao động nghỉ việc do sắp xếp lại lao động không đồng nghĩa toàn bộ khoản chi đều chịu thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Nghĩa vụ thuế phụ thuộc vào tính chất từng khoản tiền, căn cứ chi trả và hồ sơ liên quan.
Tại Công văn số 16713/HYE-QLDN3 hướng dẫn Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh Thái Bình, Thuế tỉnh Hưng Yên viện dẫn quy định tại Luật thuế TNCN số 109/2025/QH15 loại trừ trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm khỏi thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công.
Nghị định số 253/2026/NĐ-CP tiếp tục quy định các khoản trợ cấp thôi việc, mất việc làm theo pháp luật không tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động.
Đáng chú ý, trường hợp doanh nghiệp quy định mức trợ cấp cao hơn mức pháp luật trong quy chế tài chính, quy chế nội bộ, hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động thì phần thực tế chi trả vượt mức cũng không tính vào thu nhập chịu thuế.
Theo Bộ luật Lao động, người lao động làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, khi đáp ứng điều kiện, được hưởng trợ cấp thôi việc với mức mỗi năm làm việc bằng một nửa tháng tiền lương.
Đối với trợ cấp mất việc làm, mức chi trả là một tháng tiền lương cho mỗi năm làm việc nhưng tối thiểu bằng hai tháng tiền lương. Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp là mức bình quân của sáu tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc hoặc mất việc.
Thời gian tính trợ cấp được xác định bằng tổng thời gian làm việc thực tế, trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được doanh nghiệp chi trả trợ cấp trước đó.
Tuy nhiên, các khoản chi khác cho người nghỉ việc không mặc nhiên được miễn thuế, doanh nghiệp phải căn cứ hồ sơ, chứng từ, quy chế và thực tế chi trả để xác định bản chất từng khoản, từ đó thực hiện tính thuế, khấu trừ và kê khai thuế TNCN đúng quy định.