![]() |
| Các doanh nghiệp xuất khẩu đã chủ động được nguồn nguyên liệu. Ảnh: T.H |
Xuất khẩu lớn nhưng giá trị thương hiệu còn hạn chế
Ngành nội thất Việt Nam đang đứng trước một bước chuyển quan trọng. Từ một ngành sản xuất quy mô nhỏ cách đây 20-30 năm, Việt Nam đã vươn lên nhóm những quốc gia xuất khẩu gỗ lớn trên thế giới. Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ năm 2025 đạt gần 18 tỷ USD, năm nay dự kiến khoảng 19-20 tỷ USD. Trong khi đó, thị trường nội địa được ước tính khoảng 6-7 tỷ USD.
Quy mô xuất khẩu lớn cho thấy năng lực sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam đã được nâng lên rõ rệt. Lợi thế về lực lượng lao động, khả năng tiếp nhận công nghệ và năng lực tổ chức sản xuất giúp Việt Nam từng bước trở thành cứ điểm sản xuất nội thất cho khu vực và thế giới.
Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu cao chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt Nam đang nắm giữ phần lớn giá trị của sản phẩm. Theo chia sẻ tại Tọa đàm “Từ khát vọng xanh đến hành động” tổ chức ngày 1/10, ông Lê Đức Nghĩa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần gỗ An Cường cho biết, xuất khẩu gỗ kim ngạch khoảng 18 tỷ USD nhưng ngành gỗ nội thất vẫn chủ yếu gia công theo thiết kế và yêu cầu của đối tác nước ngoài. Đây là điểm nghẽn cần được tháo gỡ nếu ngành muốn tiến lên những nấc thang giá trị cao hơn.
Ông Lê Đức Nghĩa cho rằng, lợi thế cạnh tranh của ngành đang thay đổi. Nếu trước đây doanh nghiệp dựa nhiều vào lao động giá rẻ, đất đai và chi phí sản xuất thấp, thì những lợi thế này đang dần suy giảm. Chi phí đất công nghiệp tăng, lao động ngày càng khan hiếm, buộc doanh nghiệp phải nâng năng suất và thay đổi mô hình sản xuất.
Trong bối cảnh đó, cạnh tranh bằng giá và lao động không còn là hướng đi bền vững. Doanh nghiệp phải tạo ra giá trị bằng thiết kế, công nghệ, thương hiệu và khả năng đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế.
“Designed in Vietnam” để nâng giá trị xuất khẩu
Một trong những bước chuyển quan trọng được đặt ra đối với ngành gỗ nội thất là từ “Made in Vietnam” sang “Designed in Vietnam”.
Theo các doanh nghiệp, muốn thực hiện bước chuyển này, doanh nghiệp phải đầu tư đồng thời vào 3 yếu tố: thiết kế, công nghệ và thương hiệu. Đây là nền tảng để chuyển từ mô hình gia công thuần túy sang chủ động tạo ra giá trị cao hơn.
Thiết kế vì thế ngày càng trở thành một năng lực cạnh tranh cốt lõi. Đội ngũ thiết kế trẻ của Việt Nam, kết hợp với các công cụ trí tuệ nhân tạo, có thể mở rộng khả năng phát triển mẫu mã, sản phẩm và ý tưởng mới. Khi doanh nghiệp làm chủ được thiết kế, sản phẩm không còn đơn thuần được sản xuất theo yêu cầu của khách hàng mà có thể mang dấu ấn riêng của doanh nghiệp Việt Nam.
Cùng với thiết kế, công nghệ đang trở thành yếu tố quyết định năng suất. Chuyển đổi số trong ngành nội thất không chỉ là đầu tư máy móc mà còn bao gồm công nghệ vật liệu, tự động hóa, phần mềm, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.
Thực tế được chia sẻ tại doanh nghiệp cho thấy, ứng dụng công nghệ có thể làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất. Theo ông Lê Đức Nghĩa, nhờ đầu tư công nghệ, Công ty Cổ phần gỗ An Cường đã giảm số lao động từ khoảng 5.000 xuống 3.000 người nhưng năng suất vẫn cao gấp đôi; biên lợi nhuận được cải thiện nhờ tăng năng suất và tối ưu nguồn lực.
Như vậy, lợi thế cạnh tranh của ngành nội thất đang dịch chuyển từ số lượng lao động sang năng lực công nghệ và năng suất lao động.
Cùng với đó, Việt Nam đã có bước tiến đáng kể trong tự chủ nguyên liệu. Nếu khoảng 20 năm trước, phần lớn nguyên liệu phục vụ sản xuất nội thất phải nhập khẩu, thì hiện nay trong nước đã hình thành hệ thống sản xuất MDF, plywood và nhiều loại nguyên liệu gỗ công nghiệp, cùng nguồn gỗ từ rừng trồng, cao su, keo. Tại An Cường, khoảng 90% nguyên liệu gỗ công nghiệp phục vụ cho sản xuất xuất khẩu sử dụng có nguồn gốc trong nước.
![]() |
| Các doanh nghiệp chia sẻ tại Tọa đàm “từ khát vọng xanh đến hành động” ngày 1/10. Ảnh: Thu Hòa |
Đây là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp nâng tỷ lệ giá trị tạo ra trong nước, đồng thời mở rộng dư địa xây dựng thương hiệu cho sản phẩm Việt Nam.
Theo đại diện các doanh nghiệp, một thương hiệu xuất khẩu không chỉ nằm trên bao bì hay tên sản phẩm. Đó là tổng hòa của thiết kế, chất lượng, công nghệ, nguyên liệu, năng lực giao hàng và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
Thực tế, các nhà bán lẻ lớn trên thế giới ngày càng yêu cầu doanh nghiệp cung cấp nhiều bằng chứng trước khi đặt hàng, từ nguồn gốc nguyên liệu, công nghệ sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng đến môi trường, phòng cháy chữa cháy và điều kiện làm việc của người lao động.
Vì vậy, xây dựng thương hiệu xuất khẩu cũng đồng nghĩa với việc xây dựng một hệ thống sản xuất minh bạch, có khả năng chứng minh chất lượng và tính bền vững của sản phẩm.
Ở góc độ này, chuyển đổi xanh và quản trị dữ liệu ngày càng gắn chặt với năng lực xuất khẩu. Ông Tô Thanh Sơn, Giám đốc phát triển bền vững SGS Việt Nam, cho rằng carbon đang trở thành một loại dữ liệu thương mại. Khách hàng yêu cầu thông tin ở cấp sản phẩm, nhà máy và nhà cung cấp; các tuyên bố về môi trường cũng cần có dữ liệu và bằng chứng truy xuất.
Điều đó đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải chuẩn bị sớm hệ thống dữ liệu về điện, nhiên liệu, nguyên liệu, quy trình sản xuất và phát thải. Khi dữ liệu không đầy đủ hoặc thiếu khả năng truy xuất, doanh nghiệp sẽ gặp khó trong việc chứng minh sản phẩm carbon thấp và đáp ứng các yêu cầu mới của thị trường.
Cùng với nâng giá trị, ngành cũng cần giảm phụ thuộc vào các thị trường truyền thống, chủ động đa dạng hóa và cân bằng thị trường, mở rộng sang những khu vực tiềm năng như Trung Đông, Nam Á và Mỹ Latinh.
Từ một ngành chủ yếu cạnh tranh bằng năng lực gia công, ngành gỗ nội thất Việt Nam đang đứng trước cơ hội định vị lại giá trị của mình. Khi doanh nghiệp làm chủ thiết kế, công nghệ, nguyên liệu và thương hiệu, “Made in Vietnam” có thể tiến thêm một bước thành “Designed in Vietnam”.
Đó không chỉ là sự thay đổi về cách gọi sản phẩm, mà là bước chuyển từ một quốc gia sản xuất theo đơn hàng sang quốc gia tạo ra giá trị, sở hữu thương hiệu và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng nội thất toàn cầu.