![]() |
| Công chức hải quan kiểm tra hàng hóa nhập khẩu. Ảnh: H.Nụ |
Trước vướng mắc của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam về việc thực hiện chính sách thuế trong xuất khẩu gỗ tròn và gỗ xẻ, theo Cục Hải quan liên quan đến thuế suất thuế xuất khẩu đối với mặt hàng gỗ, Điều 16 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP quy định, việc phân loại hàng hóa căn cứ vào hồ sơ hải quan, tài liệu kỹ thuật và các thông tin về thành phần, tính chất lý, hóa, tính năng, công dụng của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Do Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam chỉ nêu tên gỗ tròn và gỗ xẻ, gỗ tròn để xẻ sau đó xuất khẩu thành phẩm, không có thông tin mức độ gia công (đã hoặc chưa bóc vỏ hoặc đác gỗ hoặc đẽo vuông thô, đã hoặc chưa bào, chà nhám, ghép nối đầu, ...), kích thước, độ dày, công dụng của hàng hóa, nên Cục Hải quan không có cơ sở xác định mã số cụ thể.
Tuy nhiên, tại Biểu thuế xuất khẩu theo Danh mục mặt hàng chịu thuế ban hành kèm theo Nghị định số 26/2023/NĐ-CP thì có thể xem xét một số nhóm sau.
Ví dụ: Mặt hàng thuộc nhóm 44.03 “Gỗ cây dạng thô, đã hoặc chưa bóc vỏ hoặc dác gỗ hoặc đẽo vuông thô”, có thuế suất thuế xuất khẩu là 25%.
Mặt hàng thuộc nhóm 44.07 “Gỗ đã cưa hoặc xẻ theo chiều dọc, lạng hoặc bóc, đã hoặc chưa bào, chà nhám hoặc ghép nối đầu, có độ dày trên 6 mm”, có thuế suất thuế xuất khẩu là 25%.
Mặt hàng thuộc nhóm 44.08 “Tấm gỗ để làm lớp mặt (kể cả những tấm thu được bằng cách lạng gỗ ghép), để làm gỗ dán hoặc để làm gỗ ghép tương tự và gỗ khác, đã được xẻ dọc, lạng hoặc bóc tách, đã hoặc chưa bào, chà nhám, ghép hoặc nối đầu, có độ dày không quá 6 mm.”, có thuế suất thuế xuất khẩu là 10%.
Mặt hàng thuộc nhóm 44.09 “Gỗ (kể cả gỗ thanh và viền dài gỗ trang trí (friezes) để làm sàn packé (parquet flooring), chưa lắp ghép) được tạo dáng liên tục (làm mộng, soi rãnh, bào rãnh, vát cạnh, ghép chữ V, tạo gân, gờ dạng chuỗi hạt, tạo khuôn hình, tiện tròn hoặc gia công tương tự) dọc theo các cạnh, đầu hoặc bề mặt, đã hoặc chưa bào, chà nhám hoặc nối đầu.”, có thuế suất thuế xuất khẩu là 5%.
Liên quan đến chính sách miễn thuế, tại khoản 6 Điều 16 Luật thuế Xuất khẩu, thuế nhập khẩu: “Nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để gia công sản phẩm xuất khẩu; sản phẩm hoàn chỉnh nhập khẩu để gắn vào sản phẩm gia công; sản phẩm gia công xuất khẩu. Sản phẩm gia công xuất khẩu được sản xuất từ nguyên liệu, vật tư trong nước có thuế xuất khẩu thì không được miễn thuế đối với phần trị giá nguyên liệu, vật tư trong nước tương ứng cấu thành trong sản phẩm xuất khẩu”.
Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 10 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 1 Nghị định số 18/2021/NĐ-CP quy định rõ về cơ sở miễn thuế đối với sản phẩm gia công xuất khẩu.
Đối chiếu với các quy định hiện hành, Cục Hải quan cho biết, các cơ sở miễn thuế đối với sản phẩm gia công xuất khẩu cần được thỏa mãn để hàng hóa được hưởng ưu đãi về chính sách thuế theo quy định.