![]() |
| Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI. |
Nhập khẩu tăng cùng nhịp sản xuất
395,3 tỷ USD là quy mô nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong 8 tháng năm 2026, trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 770,14 tỷ USD. Nhập khẩu tăng 35,3%, cao hơn tốc độ tăng 22,4% của xuất khẩu.
|
Điểm đáng chú ý nằm ở cơ cấu hàng hóa. Theo Cục Thống kê, Bộ Tài chính, nhóm tư liệu sản xuất chiếm 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu, tương đương khoảng 372 tỷ USD. Trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 57,6%; nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 36,5%. Hàng tiêu dùng chiếm 5,9%.
Cơ cấu này cho thấy phần lớn hàng hóa nhập khẩu đang đi vào hoạt động sản xuất, thay vì chủ yếu phục vụ tiêu dùng. Đây cũng là đặc điểm gắn với quá trình mở rộng sản xuất, đầu tư và tham gia các chuỗi cung ứng.
Nhìn từ phía doanh nghiệp, việc nhập khẩu máy móc, thiết bị hay nguyên liệu vì vậy không đơn thuần là câu chuyện mua hàng từ bên ngoài. Quan trọng hơn là sau khi đưa những đầu vào này vào sản xuất, doanh nghiệp có thể tạo thêm bao nhiêu giá trị trong nước.
Câu chuyện này có thể nhìn khá rõ từ ngành thiết bị điện. Ông Nguyễn Hải Quân, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Thiết bị điện Đông Anh - CTCP (EEMC) chia sẻ: Theo tôi, khâu khó nhất đối với một doanh nghiệp là ở khâu chuyển hóa. Từ việc đi mua công nghệ sang tự chủ công nghệ. Đó chính là làm theo những cái có sẵn sang tự mình làm chủ, làm được cái tương tự.
Theo ông Quân, để phát triển máy biến áp 500 kV - 3×300 MVA, doanh nghiệp phải tích lũy nhiều năng lực cùng lúc, từ thiết kế, mô phỏng, chế tạo đến thử nghiệm và quản lý chất lượng. Đây là quá trình tích lũy qua nhiều năm, chứ không chỉ bắt đầu từ việc đầu tư thêm một thiết bị hay tiếp nhận một công nghệ mới.
Cách nhìn này cho thấy một khía cạnh khác của nhập khẩu. Một dây chuyền, một thiết bị hay một phần công nghệ được đưa vào Việt Nam có thể là điểm bắt đầu cho quá trình học hỏi, cải tiến và phát triển năng lực sản xuất. Giá trị tạo ra vì thế không chỉ nằm ở chính hàng hóa nhập khẩu mà còn ở những công đoạn doanh nghiệp có thể đảm nhận sau đó.
TS. Vũ Văn Khoa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí cho rằng, khi lựa chọn công nghệ để phát triển, cần cân nhắc mức độ sẵn sàng của công nghệ, quy mô thị trường và năng lực hiện có. Theo ông Khoa, những khâu về thiết kế, công nghệ lõi và các công đoạn tạo ra giá trị gia tăng cao là những phần cần được chú ý.
Làm gì để nâng giá trị trong nước?
Quy mô nhập khẩu tăng cùng với sự mở rộng của sản xuất cũng thể hiện ở nhiều nhóm hàng công nghiệp. Tám tháng năm 2026, nhập khẩu điện tử, máy tính và linh kiện đạt 161,63 tỷ USD, tăng 68,3%; nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 47,4 tỷ USD, tăng 22,1%.
| Quy mô nhập khẩu tăng cùng với sự mở rộng của sản xuất cũng thể hiện ở nhiều nhóm hàng công nghiệp. Tám tháng năm 2026, nhập khẩu điện tử, máy tính và linh kiện đạt 161,63 tỷ USD, tăng 68,3%; nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 47,4 tỷ USD, tăng 22,1%. Ở chiều xuất khẩu, điện tử, máy tính và linh kiện cũng là nhóm hàng có mức tăng đáng chú ý. Kim ngạch xuất khẩu nhóm này đạt 101,06 tỷ USD, tăng 51,1% so với cùng kỳ. Những con số trên phản ánh một chuỗi sản xuất có sự tham gia của nhiều nguồn cung, trong đó nguyên liệu, linh kiện, máy móc nhập khẩu là một phần quan trọng. |
Ở chiều xuất khẩu, điện tử, máy tính và linh kiện cũng là nhóm hàng có mức tăng đáng chú ý. Kim ngạch xuất khẩu nhóm này đạt 101,06 tỷ USD, tăng 51,1% so với cùng kỳ.
Những con số trên phản ánh một chuỗi sản xuất có sự tham gia của nhiều nguồn cung, trong đó nguyên liệu, linh kiện, máy móc nhập khẩu là một phần quan trọng. Vấn đề đặt ra với doanh nghiệp trong nước là làm thế nào để tham gia được nhiều hơn vào chuỗi này, từ cung ứng linh kiện, vật liệu đến thiết kế, chế tạo và các dịch vụ kỹ thuật.
Theo GS.TS. Huỳnh Trung Hiếu, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, làm chủ công nghệ không chỉ là sử dụng tốt một thiết bị hay phần mềm mà còn phải từng bước có khả năng thiết kế, tích hợp, cải tiến, bảo trì và phát triển giải pháp phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Đây cũng là khoảng trống mà các doanh nghiệp Việt có thể từng bước tham gia. Không nhất thiết phải bắt đầu từ những sản phẩm hoàn chỉnh, mà có thể từ những chi tiết, linh kiện, công đoạn hoặc dịch vụ kỹ thuật phù hợp với năng lực.
Theo ông Hoàng Ninh, Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số, Bộ Công Thương, khoảng cách từ kết quả nghiên cứu đến sản phẩm thực tế vẫn là một vấn đề cần được giải quyết. Quá trình này còn có các bước thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, xây dựng tiêu chuẩn, đầu tư sản xuất rồi mới đưa sản phẩm ra thị trường.
TS. Vũ Văn Khoa cho rằng, doanh nghiệp nên tham gia từ sớm, ngay từ khi xác định ý tưởng, yêu cầu kỹ thuật và đặt hàng. Khi doanh nghiệp cùng tham gia, sản phẩm nghiên cứu có điều kiện bám sát hơn với yêu cầu thực tế của sản xuất.
Từ phía doanh nghiệp, ông Nguyễn Hải Quân đề xuất cơ chế đặt hàng xuất phát từ nhu cầu thực tế của ngành, với lộ trình rõ từ nghiên cứu, thử nghiệm đến ứng dụng và thương mại hóa. Ông cũng cho rằng, cần có cách chia sẻ rủi ro phù hợp giữa Nhà nước, đơn vị sử dụng và đơn vị nghiên cứu, chế tạo.
Với quy mô nhập khẩu 395,3 tỷ USD trong tám tháng, phần lớn là máy móc, nguyên liệu và các loại tư liệu sản xuất, dòng hàng hóa này tiếp tục là một phần quan trọng của hoạt động sản xuất trong nước. Theo các chuyên gia, điều quan trọng không nhất thiết nằm ở việc nhập khẩu nhiều hay ít, mà ở cách doanh nghiệp sử dụng những nguồn lực đó để nâng cao năng lực sản xuất, từng bước tạo thêm giá trị trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.