|
Phải đảm bảo đầy đủ hoá đơn, chứng từ
Tại Tọa đàm, nhiều doanh nghiệp đặt câu hỏi, việc chi phí thuê nhà do công ty trả thay nhân viên thường được tính như thế nào khi tính thuế TNCN của người lao động và quy tắc khống chế 15% được áp dụng ra sao trong kỳ quyết toán thuế 2025.
Trả lời nội dung này, bà Ngô Thanh Hạnh cho biết, đối với thuế TNCN, khoản tiền thuê nhà, điện nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có) đối với nhà ở do đơn vị sử dụng lao động trả hộ tính vào thu nhập chịu thuế theo số thực tế trả hộ, nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế phát sinh (chưa bao gồm tiền thuê nhà) tại đơn vị không phân biệt nơi trả thu nhập.
![]() |
Bà Ngô Thanh Hạnh, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Đào tạo và Tư vấn THTAX trả lời vướng mắc của doanh nghiệp. Ảnh: PV |
Theo đó, khoản tiền thuê nhà mà doanh nghiệp trả hộ cho người lao động không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế (chưa bao gồm tiền thuê nhà) là khoản tiền được tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động. Đối với phần vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế (chưa bao gồm tiền thuê nhà) là phần không tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động.
Khi áp dụng tính thuế TNDN, tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC nêu rõ: “Doanh nghiệp ký hợp đồng lao động với người lao động trong đó có ghi khoản chi về tiền nhà do doanh nghiệp trả cho người lao động, khoản chi trả này có tính chất tiền lương, tiền công và có đầy đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định thì được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp".
Như vậy, để tiền thuê nhà do doanh nghiệp trả cho người lao động được tính vào chi phí được trừ, doanh nghiệp phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu về hồ sơ chứng từ như: Hợp đồng lao động; Quy chế và thỏa ước lao động tập thể; Quy chế tài chính của công ty, tập đoàn lao động; Nêu rõ các quy chế thưởng phạt do chủ doanh nghiệp, hội đồng quản trị, giám đốc quy định đối với quy chế tài chính và tổng công ty theo quy định.
Đồng thời, cần có hóa đơn, chứng từ đầy đủ như: Hợp đồng thuê nhà; Chứng từ trả tiền thuê nhà; Chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân cho chủ nhà (nếu có).
Chưa áp dụng mức giảm trừ gia cảnh 15,5 triệu đồng/người/tháng
Ông Phạm Thanh Việt, đại diện chủ hộ kinh doanh trên địa bàn phường Tân Thuận, TP. Hồ Chí Minh nêu câu hỏi: "Tôi là chủ một hộ kinh doanh quy mô lớn, thực hiện kê khai theo Nghị định số 68/2026/NĐ-CP. Nghe nói năm 2026 mức giảm trừ gia cảnh sẽ tăng lên. Vậy hộ kinh doanh như chúng tôi có được áp dụng mức giảm trừ bản thân 15,5 triệu đồng và người phụ thuộc 6,2 triệu đồng như cá nhân làm công ăn lương không?"
![]() |
| Nhiều vướng mắc của doanh nghiệp, người nộp thuế được giải đáp trực tiếp tại Tọa đàm. Ảnh: PV |
Trả lời câu hỏi này, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Đào tạo và Tư vấn THTAX cho biết, theo quy định tại Nghị định số 68/2026/NĐ-CP và lộ trình điều chỉnh mức giảm trừ tại Công văn 1296/CT-NVT của Cục Thuế thì thu nhập của hộ kinh doanh vẫn được xác định là thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh (TNCN từ kinh doanh) không phải thu nhập từ tiền lương, tiền công thì không được áp dụng giảm trừ gia cảnh như người làm công.
Đối với mức giảm trừ 15,5 triệu/tháng (bản thân) và 6,2 triệu/tháng (người phụ thuộc) chỉ áp dụng cho cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công và không áp dụng cho hộ kinh doanh kê khai. Thực tế, mức giảm trừ gia cảnh này sẽ áp dụng vào kỳ quyết toán thuế năm 2026 - sẽ diễn ra vào đầu năm 2027.
Như vậy, kỳ quyết toán thuế năm 2025, mức giảm trừ gia cảnh được xác định theo quy định tại Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14. Cụ thể, giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 11 triệu đồng/tháng (132 triệu đồng/năm); giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/tháng.
Đồng thời, về thuế TNCN vẫn áp dụng mức giảm cho hộ kinh doanh kê khai tính theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu nhân với tỷ lệ thuế suất về thuế TNCN, đối với doanh thu trên 500 triệu đến 3 tỷ đồng/năm có 2 phương pháp tính:
Phương pháp 1: Tính theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu bán ra trừ doanh thu miễn thuế nhân với tỷ lệ thuế suất đối với ngành nghề.
Phương pháp 2: Tính theo thu nhập tính thuế từ hoạt động kinh doanh nhân với thuế suất (15%).
Đối với doanh thu trên 3 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng/năm, tính theo thu nhập tính thuế nhân với thuế suất (17%). Đối với doanh thu trên 50 tỷ đồng/năm, tính theo thu nhập tính thuế nhân với thuế suất (20%).