![]() |
| Hàng hóa xuất nhập khẩu qua khu vực cảng Hải Phòng. Ảnh: Thái Bình. |
Nhập khẩu tăng tốc, nhóm hàng công nghệ, máy móc giữ vai trò dẫn dắt
Theo số liệu thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, tháng 9/2026, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 58,21 tỷ USD, tăng 6% so với tháng trước. Đây là mức kim ngạch nhập khẩu tháng khá cao, tiếp nối xu hướng tăng trưởng mạnh của hoạt động thương mại hàng hóa trong những tháng gần đây.
Lũy kế 9 tháng năm 2026, tổng kim ngạch đạt 453,71 tỷ USD, tăng 36,7%, tương ứng tăng khoảng 121,8 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này phản ánh sự mở rộng đáng kể về quy mô nhập khẩu, trong đó nhu cầu máy móc, thiết bị, linh kiện điện tử và nguyên liệu đầu vào cho sản xuất tiếp tục là động lực quan trọng.
Đáng chú ý, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng góp 335,55 tỷ USD, tăng 42% so với cùng kỳ, chiếm gần 74% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước.
Những con số trên cho thấy vai trò ngày càng lớn của khu vực FDI trong hoạt động nhập khẩu, đặc biệt tại các ngành sản xuất có mức độ tham gia sâu vào chuỗi cung ứng quốc tế.
Xét theo cơ cấu hàng hóa, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tiếp tục giữ vị trí áp đảo, với kim ngạch nhập khẩu 9 tháng đạt 188,94 tỷ USD, tăng tới 71,7% so với cùng kỳ năm trước. Riêng nhóm hàng này chiếm khoảng 41,6% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước.
Đứng thứ hai là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, đạt 53,95 tỷ USD, tăng 21,9%. Như vậy, riêng hai nhóm hàng này đạt gần 242,89 tỷ USD, tương đương 53,5% kim ngạch cả nước.
Sự tập trung lớn vào các nhóm hàng công nghệ và thiết bị sản xuất cho thấy cơ cấu nhập khẩu đang gắn chặt với nhu cầu của các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, nhất là điện tử, công nghệ thông tin và những lĩnh vực có sự tham gia mạnh của doanh nghiệp FDI.
Ngoài ra, nhiều nhóm nguyên liệu phục vụ sản xuất tiếp tục duy trì quy mô nhập khẩu lớn như vải các loại đạt 11,6 tỷ USD; kim loại thường đạt 11,23 tỷ USD; chất dẻo nguyên liệu đạt 10,24 tỷ USD; sản phẩm từ chất dẻo đạt 9,15 tỷ USD…
Một số nhóm hàng ghi nhận tốc độ tăng trưởng đáng chú ý như xăng dầu các loại tăng 79,3%, quặng và khoáng sản khác tăng 54,4%, kim loại thường tăng 37,3%...
Có thể thấy, điểm nổi bật của hoạt động nhập khẩu 9 tháng năm 2026 không chỉ nằm ở quy mô tăng trưởng mà còn ở sự chi phối của các nhóm hàng phục vụ sản xuất. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá nhu cầu đầu vào của nền kinh tế, nhưng nó cũng cho thấy mức độ phụ thuộc vào nguồn cung linh kiện, thiết bị, nguyên phụ liệu… từ thị trường quốc tế.
![]() |
| Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tại cảng Cát Lái, TP. Hồ Chí Minh. Ảnh ST |
Ba thị trường nhập khẩu lớn nhất chiếm 65,1% kim ngạch
Điểm đáng chú ý khác trong hoạt động nhập khẩu của Việt Nam thể hiện mức độ tập trung cao vào một số thị trường cung ứng chủ lực tại châu Á. Trong đó, Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) là ba thị trường lớn nhất, đồng thời ghi nhận tốc độ tăng trưởng vượt xa mức tăng nhập khẩu chung của cả nước.
Trong 9 tháng, nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 187,34 tỷ USD, tăng 39,3%, tương ứng tăng 52,87 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2025. Đây tiếp tục là thị trường cung cấp hàng hóa lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 41,3% tổng kim ngạch cả nước.
Đáng chú ý, riêng nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện từ Trung Quốc đạt 69,69 tỷ USD, tăng 81,3% so với cùng kỳ, chiếm hơn 37% tổng kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này. Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 34,91 tỷ USD, tăng 23,2%.
Hai nhóm hàng trên đạt tổng cộng 104,6 tỷ USD, cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của Trung Quốc trong việc cung cấp linh kiện công nghệ, thiết bị và tư liệu sản xuất cho doanh nghiệp Việt Nam.
Ngoài ra, nhiều nhóm hàng nhập khẩu từ Trung Quốc có kim ngạch lớn như vải các loại đạt 8,17 tỷ USD; điện thoại các loại và linh kiện đạt 6,57 tỷ USD; sản phẩm từ chất dẻo đạt 5,93 tỷ USD; chất dẻo nguyên liệu đạt 4,21 tỷ USD; sắt thép các loại đạt 4,07 tỷ USD…
Những số liệu này phản ánh tính chất đa dạng của nguồn cung hàng hóa từ Trung Quốc, trải rộng từ thiết bị công nghệ cao đến nguyên liệu phục vụ các ngành công nghiệp truyền thống và cả hàng hóa tiêu dùng. Tuy nhiên, tỷ trọng nhập khẩu lớn cũng cho thấy yêu cầu phải đa dạng hóa nguồn cung, hạn chế rủi ro khi thị trường quốc tế xuất hiện những biến động bất lợi.
Đứng thứ hai là Hàn Quốc, với kim ngạch đạt 69,3 tỷ USD, tăng 55,9%, tương ứng tăng 24,85 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước, chiếm 15,3% tổng kim ngạch cả nước.
Đáng chú ý, riêng nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 50,61 tỷ USD, tăng 82,8% và chiếm tới 73% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Hàn Quốc. Đây là tỷ trọng rất lớn, phản ánh sự tập trung của hoạt động nhập khẩu vào nhóm hàng công nghệ, linh kiện điện tử.
Ngoài ra, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 3,74 tỷ USD; chất dẻo nguyên liệu đạt 1,57 tỷ USD; kim loại thường đạt 1,35 tỷ USD…
Cơ cấu nhập khẩu này cho thấy Hàn Quốc tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng sản xuất công nghiệp tại Việt Nam, đặc biệt là lĩnh vực điện tử. Sự gia tăng mạnh nhập khẩu linh kiện cũng phản ánh mối liên kết chặt chẽ giữa hoạt động sản xuất tại Việt Nam với mạng lưới cung ứng quốc tế.
Đứng thứ ba là thị trường Đài Loanvới kim ngạch nhập khẩu đạt 38,77 tỷ USD, tăng 60,8%, tương ứng tăng 14,65 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2025. Đây là thị trường có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong ba thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam.
Tương tự hai thị trường dẫn đầu, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện cũng là nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất từ Đài Loan với kim ngạch đạt 31,25 tỷ USD, tăng 81,5%, chiếm tới 80,6% tổng kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này.
Sự áp đảo của nhóm hàng điện tử cho thấy Đài Loan cũng giữ vị trí đáng kể trong chuỗi cung ứng công nghệ phục vụ sản xuất tại Việt Nam.
Với tổng kim ngạch gần 295,41 tỷ USD, riêng ba thị trường lớn nêu trên chiếm tới 65,1% tổng kim ngạch kim ngạch cả nước.
Xét về yếu tố tăng trưởng, ba thị trường trên đóng góp khoảng 77% mức tăng kim ngạch nhập khẩu của cả nước trong 9 tháng năm 2026.
Điều đó cho thấy tăng trưởng nhập khẩu đang gắn chặt với sự phát triển của các ngành sản xuất công nghệ, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực công nghiệp hỗ trợ, tăng tỷ lệ nội địa hóa và chủ động nguồn cung nguyên liệu, linh kiện.
Trong bối cảnh thương mại quốc tế còn tiềm ẩn nhiều biến động, việc duy trì nguồn nhập khẩu ổn định, đa dạng hóa đối tác, đồng thời đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hải quan và tạo thuận lợi thương mại có ý nghĩa quan trọng.
Về dài hạn, cùng với bảo đảm nguồn nguyên liệu, máy móc và thiết bị phục vụ sản xuất, Việt Nam cần thúc đẩy sự tham gia sâu hơn của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng, từng bước giảm phụ thuộc vào nhập khẩu ở những lĩnh vực có khả năng phát triển sản xuất nội địa.
Tăng trưởng nhập khẩu mạnh mẽ là một tín hiệu đáng chú ý về nhu cầu đầu vào của nền kinh tế. Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng sẽ phụ thuộc không chỉ vào quy mô hàng hóa nhập khẩu, mà còn ở khả năng chuyển hóa nguồn lực này thành năng lực sản xuất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp Việt Nam.