![]() |
| Hoạt động xuất nhập khẩu duy trì tăng trưởng cao hai con số. Ảnh: Thu Hòa. |
Tăng trưởng rộng khắp, tập trung ở những địa bàn chủ lực
Theo số liệu thống kê mới nhất của Cục Hải quan, 9 tháng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước đạt hơn 888 tỷ USD, tăng khoảng 30,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, xuất khẩu đạt 434,32 tỷ USD, tăng 24,5%; nhập khẩu đạt 453,71 tỷ USD, tăng 36,7%.
Trong bức tranh xuất nhập khẩu chung của cả nước, độ phủ về tăng trưởng ở hầu khắp các tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, mức đóng góp có sự phân hóa rõ rệt. Những trung tâm sản xuất, thương mại lớn tiếp tục quyết định phần đáng kể mức tăng chung, trong khi nhiều địa phương quy mô nhỏ tăng nhanh nhưng trị giá bổ sung còn hạn chế.
TP. Bắc Ninh tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu với tổng kim ngạch 178,78 tỷ USD, tăng 36,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, Xuất khẩu đạt 88,27 tỷ USD, tăng 31,7%; nhập khẩu đạt 90,51 tỷ USD, tăng 42,4%.
So với cùng kỳ 2025, địa phương này có kim ngạch tăng thêm khoảng 48,18 tỷ USD, khẳng định sức nặng của một trung tâm sản xuất, xuất khẩu quy mô lớn của Việt Nam.
Trong khi đó, TP. Hồ Chí Minh đứng thứ hai với quy mô kim nga đạt 158,07 tỷ USD, tăng 11,7%. Trong đó, xuất khẩu đạt 75,74 tỷ USD, nhập khẩu đạt 82,33 tỷ USD, lần lượt tăng 10,3% và 13,0%. Tốc độ tăng thấp hơn một số địa phương phía Bắc, nhưng trên nền quy mô lớn, thành phố này vẫn đóng góp thêm khoảng 16,54 tỷ USD vào kim ngạch chung cả nước.
Đáng chú ý là sự vươn lên mạnh mẽ của tỉnh Phú Thọ với 116,69 tỷ USD, tăng 115,7%.
Riêng ba địa phương chủ lực kể trên chiếm khoảng 51% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước. Sự tập trung ấy cho thấy tăng trưởng thương mại đang gắn chặt với năng lực sản xuất và tổ chức chuỗi cung ứng tại các địa bàn chủ lực.
Ở nhóm tiếp theo, TP. Hải Phòng đạt kim ngạch 74,35 tỷ USD, tăng 17,4%; TP. Hà Nội đạt 64,77 tỷ USD, tăng 30%. Trong đó, TP. Hải Phòng duy trì xuất siêu khoảng 3,09 tỷ USD. Trong khi TP. Hà Nội có kim ngạch nhập khẩu tăng 39,7%, cao hơn đáng kể mức tăng xuất khẩu 8,3%.
Những tên tuổi lớn khác trong bản đồ ngoại thương của Việt Nam như: Tỉnh Ninh Bình, tỉnh Thái Nguyên, TP. Đồng Nai…
Trong đó, tỉnh Ninh Bình đạt kim ngạch 52,43 tỷ USD tăng 47,2% và tỉnh Thái Nguyên đạt 52,04 tỷ USD, 34,2%.
TP. Đồng Nai đạt 46,75 tỷ USD, tăng 6,6%, đồng thời xuất siêu khoảng 7,87 tỷ USD.
![]() |
| Tỷ trọng đóng góp của tỉnh Phú Thọ vào kim ngạch xuất nhập khẩu tăng thêm của cả nước. Biểu đồ: Thái Bình. |
Phú Thọ: Bứt phá quy mô, nâng yêu cầu về chất lượng tăng trưởng
Như đề cập ở trên, điểm nổi bật nhất trong hoạt động xuất nhập khẩu của các địa phương chính là sự bứt phá của tỉnh Phú Thọ khi đạt tăng trưởng ba con số. Hết tháng 9/2026, xuất khẩu của địa phương này đạt 50,9 tỷ USD, tăng 91,6%; nhập khẩu đạt 65,78 tỷ USD, tăng 138,9%.
Như vậy, tổng kim ngạch tăng thêm của tỉnh Phú Thọ lên đến 62,58 tỷ USD, mức tăng lớn nhất trong 34 tỉnh, thành phố của cả nước và đóng góp khoảng 30,2% vào kim ngạch xuất nhập khẩu tăng thêm của nước ta trong 9 tháng qua.
Riêng tháng 9, tỉnh Phú Thọ xuất khẩu 12,13 tỷ USD, nhập khẩu 10,11 tỷ USD. Quy mô kim ngạch lớn ở cả hai chiều cho thấy địa phương đang tham gia sâu vào các chuỗi sản xuất và cung ứng quốc tế.
Hoạt động xuất nhập khẩu của tỉnh Phú Thọ tăng trưởng cao là sự cộng hưởng trong bối cảnh nền kinh tế của địa phương này đang có nhiều khởi sắc. Theo UBND tỉnh Phú Thọ, 9 tháng năm 2026, GRDP của địa phương này tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2025; thu ngân sách tăng 9,5% so với cùng kỳ, đạt trên 48.000 tỷ đồng.
Đáng chú ý, thu hút đầu tư, nhất là đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục là điểm sáng với số vốn đăng ký đạt hơn 2,4 tỷ USD, gấp 2,1 lần so với cùng kỳ năm trước…
Trong hoạt động ngoại thương của tỉnh Phú Thọ, một vấn đề đáng chú ý là con số nhập siêu khoảng 14,88 tỷ USD, cao hơn mức gần 0,96 tỷ USD cùng kỳ 2025. Trong cơ cấu nhập khẩu thiên về đầu vào sản xuất, nhập siêu cần được đánh giá gắn với hiệu quả sử dụng nguyên liệu, thiết bị và khả năng chuyển hóa thành sản phẩm xuất khẩu.
Bởi vậy, vấn đề đặt ra là tỉnh Phú Thọ phải mở rộng hơn nữa năng lực cung ứng linh kiện, vật liệu và dịch vụ công nghiệp; tạo điều kiện để doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi sản xuất.
Đồng thời, hạ tầng logistics, nguồn điện, lao động kỹ thuật và thủ tục xuất nhập khẩu phải theo kịp quy mô sản xuất, xuất nhập khẩu...