Thứ năm 22/10/2026 15:18
Thời tiết: Hà Nội 32°C
Đà Nẵng 29°C
Cà Mau 30°C
Hải Phòng 31°C
TP Hồ Chí Minh 30°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách / Diễn đàn
aa

Giảm trừ chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế: Quản lý bằng dữ liệu để đảm bảo công bằng

Thúy Nga (thực hiện)
Đề xuất cho phép giảm trừ chi phí y tế và giáo dục khi tính thuế TNCN được xem là bước tiến quan trọng trong cải cách chính sách cũng như góp phần hỗ trợ người nộp thuế. Tuy nhiên, theo ThS. Võ Thị Thục Viên, Tổng giám đốc Công ty Đào tạo Tư vấn thuế Sài Nam, Giảng viên doanh nhân Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở việc mở rộng giảm trừ, mà là cách thiết kế hệ thống quản lý để đảm bảo công bằng, minh bạch và hiệu quả.
Đề xuất mức trừ tối đa 47 triệu đồng/năm cho chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế TNCN 12 khoản thu nhập được đề xuất miễn hoặc giảm thuế Thu nhập cá nhân Đề xuất nâng mức miễn thuế TNCN đối với tiền ăn lên 1,2 triệu đồng/tháng Thu nhập vãng lai không phải quyết toán thuế có thể nâng lên 15 triệu đồng Kinh nghiệm quốc tế về giảm trừ thuế thu nhập cá nhân đối với chi tiêu y tế và giáo dục

Giảm trừ chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế: Quản lý bằng dữ liệu để đảm bảo công bằng
ThS. Võ Thị Thục Viên, Tổng giám đốc Công ty Đào tạo Tư vấn thuế Sài Nam.

Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật thuế TNCN đang được Bộ Tài chính đề xuất cho phép giảm trừ chi phí y tế và giáo dục trước khi tính thuế. Bà đánh giá như thế nào về tác động của đề xuất này đối với điều tiết thu nhập của người lao động?

Theo tôi, đây là một bước tiến rất tích cực trong điều tiết thu nhập theo hướng công bằng và nhân văn hơn. Hiện nay, pháp luật thuế TNCN chủ yếu áp dụng cơ chế giảm trừ gia cảnh cố định, bao gồm giảm trừ cho bản thân và người phụ thuộc. Cách làm này có ưu điểm là đơn giản, dễ áp dụng, nhưng lại chưa phản ánh đầy đủ các chi phí thiết yếu mang tính bắt buộc như y tế và giáo dục.

Thực tế, có những người có cùng mức thu nhập nhưng hoàn cảnh chi tiêu rất khác nhau. Có người phải dành phần lớn thu nhập cho việc chữa bệnh hoặc chi phí học tập của con cái, trong khi người khác gần như không có các khoản chi này. Nếu áp dụng cùng một mức giảm trừ, rõ ràng chưa phản ánh đúng khả năng nộp thuế thực tế.

Việc bổ sung các khoản chi phí y tế và giáo dục, nếu được thiết kế hợp lý sẽ giúp tăng tính công bằng theo cả 2 chiều.

Thứ nhất là, công bằng theo chiều ngang, tức là những người có cùng thu nhập nhưng chi phí khác nhau sẽ được điều tiết phù hợp hơn.

Thứ hai là, công bằng theo chiều dọc, người có thu nhập cao nhưng chi phí thấp sẽ phải chịu thuế cao hơn so với người có gánh nặng chi phí lớn.

Quan trọng hơn, cách tiếp cận này cũng giúp chính sách thuế của Việt Nam tiệm cận với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh một điểm, chính sách này chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi kèm với cơ chế kiểm soát dữ liệu và chứng từ đủ chặt chẽ. Nếu không rất dẫn đến nguy cơ rủi ro gian lận.

Nhiều ý kiến cho rằng việc được trừ thêm chi phí giáo dục, y tế… là hỗ trợ thiết thực nhất. Tuy nhiên, thực tế nhiều khoản chi như học phí chỉ có giấy xác nhận đã nộp hoặc biên lai chuyển khoản, chưa kể, doanh thu dưới 500 triệu đồng/năm không thuộc diện bắt buộc sử dụng hóa đơn nên khó cung cấp cho người nộp. Quy định phải có chứng từ hợp lệ để được giảm trừ có khiến người nộp thuế khó tiếp cận chính sách không? Quan điểm của bà về vấn đề này như thế nào?

Theo tôi, không nên nhìn nhận vấn đề này theo hướng là một rào cản hay mâu thuẫn chính sách, mà thực tế pháp luật hiện hành đã có cơ chế xử lý phù hợp đối với các trường hợp không có hóa đơn.

Cụ thể, đối với những trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ từ các đối tượng không bắt buộc phải xuất hóa đơn, pháp luật cho phép bên mua được lập bảng kê mua hàng hóa, dịch vụ theo quy định để làm căn cứ tính chi phí.

Tuy nhiên, điều kiện quan trọng đi kèm là về thanh toán. Các khoản chi có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên bắt buộc phải thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt. Đây là nguyên tắc rất nhất quán trong chính sách thuế nhằm kiểm soát dòng tiền và hạn chế rủi ro gian lận.

Giảm trừ chi phí y tế, giáo dục: Bước tiến công bằng thuế, nhưng phải quản lý bằng dữ liệu
Cho phép giảm trừ chi phí giáo dục là bước đi đúng hướng, thể hiện sự thay đổi trong tư duy chính sách.

Như vậy, có thể thấy, hệ thống pháp luật đã có một “cơ chế thay thế hóa đơn” trong những trường hợp đặc thù. Cơ chế này giúp không làm tăng gánh nặng hành chính cho các đơn vị nhỏ hoặc các hình thức cung cấp dịch vụ thực tế, nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi về chi phí hợp lệ cho người nộp thuế.

Vấn đề ở đây là các chứng từ thay thế như bảng kê phải thể hiện đầy đủ thông tin về bên cung cấp, nội dung dịch vụ, số tiền thanh toán…, đồng thời phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để chứng minh giao dịch là có thật.

Do đó, theo tôi, nếu được hướng dẫn rõ ràng, quy định về chứng từ không phải là rào cản, mà vẫn có thể đảm bảo vừa tạo điều kiện cho người nộp thuế, vừa kiểm soát được rủi ro. Nói cách khác, chính sách có thể linh hoạt trong hình thức, nhưng nguyên tắc kiểm soát thì vẫn phải được giữ chặt.

Việc mở rộng các khoản được khấu trừ chắc chắn sẽ làm gia tăng khối lượng kê khai và kiểm tra. Theo bà, cơ quan quản lý cần thiết kế chính sách như thế nào để hạn chế chi phí tuân thủ?

Đúng là khi bổ sung các khoản khấu trừ, chúng ta sẽ đối mặt với 3 áp lực lớn: tăng khối lượng kê khai, tăng áp lực kiểm tra và tăng chi phí tuân thủ. Theo tôi, giải pháp cần đi theo hướng “tự động hóa – đơn giản hóa – phân tầng”.

Thứ nhất: tự động hóa dữ liệu. Cơ quan Thuế cần xây dựng hệ thống kết nối với bệnh viện, trường học và ngân hàng. Khi đó, dữ liệu chi phí của người nộp thuế có thể được tự động tổng hợp, thay vì họ phải tự kê khai và lưu giữ hàng loạt chứng từ. Đây là nền tảng quan trọng để giảm gánh nặng hành chính.

Thứ hai: phân tầng người nộp thuế. Không nên áp dụng cùng một mức độ kiểm soát cho tất cả. Ví dụ, với người có thu nhập thấp, có thể áp dụng cơ chế khoán chi phí hoặc đơn giản hóa yêu cầu chứng từ. Ngược lại, với người thu nhập cao, cần yêu cầu chứng từ đầy đủ và kiểm tra sâu hơn.

Thứ ba: đơn giản hóa thủ tục. Khi dữ liệu đã được số hóa, hoàn toàn có thể triển khai cơ chế kê khai sẵn, thậm chí tiến tới quyết toán tự động. Người nộp thuế chỉ cần kiểm tra và xác nhận, thay vì phải làm toàn bộ quy trình như hiện nay.

Điểm mấu chốt là trao quyền lợi cho người dân nhưng không được làm tăng gánh nặng.

Ở góc độ hoàn thiện chính sách, bà có đề xuất gì để đảm bảo hài hòa giữa hỗ trợ người nộp thuế và chống thất thu?

Có một nguyên tắc rất quan trọng: chính sách thuế hiện đại không thể chỉ dựa vào chứng từ, mà phải dựa vào dữ liệu. Trước đây, chúng ta quen với việc kiểm soát bằng hóa đơn, giấy tờ. Nhưng trong bối cảnh kinh tế số, cách tiếp cận đó dần bộc lộ hạn chế. Chứng từ có thể bị làm giả hoặc hợp thức hóa, nhưng dữ liệu liên thông từ nhiều nguồn thì khó bị thao túng hơn.

Do đó, cần chuyển từ “quản lý bằng chứng từ” sang “quản lý bằng dữ liệu”. Điều này đòi hỏi phải xây dựng hệ sinh thái dữ liệu kết nối giữa cơ quan thuế, ngân hàng, cơ sở y tế, cơ sở giáo dục.

Bên cạnh đó, việc phân tầng người nộp thuế cũng rất quan trọng. Không thể dàn trải nguồn lực kiểm tra cho tất cả, mà cần tập trung vào nhóm có rủi ro cao. Nếu làm tốt, chúng ta có thể đạt được 3 mục tiêu: hỗ trợ người nộp thuế, kiểm soát thất thu và tối ưu chi phí quản lý.

Tóm lại, về tổng thể, tôi cho rằng việc cho phép giảm trừ chi phí y tế và giáo dục là một bước đi đúng hướng. Nó thể hiện sự thay đổi trong tư duy chính sách – từ chỗ ưu tiên đơn giản sang chú trọng công bằng và thực chất hơn.

Nhưng điều quan trọng hơn là cách chúng ta triển khai. Nếu chỉ dừng ở việc mở rộng khấu trừ mà không cải thiện hệ thống quản lý, thì hiệu quả sẽ rất hạn chế. Ngược lại, nếu kết hợp được chính sách đúng với hạ tầng dữ liệu đủ mạnh và quy trình quản lý thông minh, đây sẽ là một bước nâng cấp đáng kể của hệ thống thuế. Khi đó, câu chuyện sẽ không còn là “thu bao nhiêu”, mà là “thu như thế nào cho công bằng và hiệu quả”. Đó mới là mục tiêu dài hạn của cải cách thuế.

Xin trân trọng cảm ơn Bà!

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định thu, nộp thuế hàng hóa xuất nhập khẩu

Hoàn thiện quy định thu, nộp thuế hàng hóa xuất nhập khẩu

Bộ Tài chính đang lấy ý kiến hoàn thiện dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 184/2015/TT-BTC và Thông tư số 51/2025/TT-BTC tập trung vào thủ tục thu, nộp thuế, bảo lãnh thuế, giao dịch điện tử và tra soát, xử lý chứng từ nộp tiền đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.
Đưa tiếng nói doanh nghiệp vào quá trình xây dựng chính sách hải quan

Đưa tiếng nói doanh nghiệp vào quá trình xây dựng chính sách hải quan

Tham vấn doanh nghiệp trong quá trình xây dựng chính sách, duy trì đối thoại với các hiệp hội và tăng cường phối hợp trong thực hiện thủ tục đang tạo nền tảng để phát triển quan hệ đối tác Hải quan - Doanh nghiệp thực chất hơn. Từ hoàn thiện quy định đến tổ chức thực hiện tại cửa khẩu, việc lắng nghe và xử lý kiến nghị của doanh nghiệp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Hoàn thiện pháp lý, khơi thông dòng chảy thương mại biên giới

Hoàn thiện pháp lý, khơi thông dòng chảy thương mại biên giới

Dự thảo sửa đổi Nghị định số 14/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết về hoạt động thương mại biên giới (gọi tắt dự thảo) tập trung tháo gỡ vướng mắc về thuế, phí, thủ tục hải quan và thẩm quyền quản lý. Việc đồng bộ các quy định pháp luật được kỳ vọng hạn chế chồng chéo, tạo thuận lợi cho hoạt động giao thương và xuất nhập khẩu qua biên giới.
Hàng bưu chính, chuyển phát nhanh: Thay đổi quy trình làm thủ tục hải quan

Hàng bưu chính, chuyển phát nhanh: Thay đổi quy trình làm thủ tục hải quan

Thông tư số 142/2026/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 16/11/2026, sửa đổi quy định về phân nhóm hàng nhập khẩu, định danh điện tử, nộp thuế và hồ sơ hải quan đối với hàng bưu chính, chuyển phát nhanh quốc tế. Những thay đổi này đòi hỏi doanh nghiệp rà soát quy trình nghiệp vụ, chuẩn bị hệ thống dữ liệu để đáp ứng yêu cầu mới.
Hoàn thuế hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất xuất khẩu cần điều kiện gì?

Hoàn thuế hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất xuất khẩu cần điều kiện gì?

Theo Cục Hải quan, việc hoàn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất, kinh doanh nhưng đã đưa vào sản xuất hàng hóa xuất khẩu phải đáp ứng điều kiện về hoàn thuế, cơ sở xác định hàng hóa và thủ tục hải quan theo quy định.
Urê nhập khẩu của doanh nghiệp thương mại có phải quản lý như phân bón?

Urê nhập khẩu của doanh nghiệp thương mại có phải quản lý như phân bón?

Cục Hải quan đề nghị Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) làm rõ chính sách quản lý đối với mặt hàng urê nhập khẩu khai báo làm nguyên liệu sản xuất công nghiệp nhưng có thể sử dụng làm phân bón, trong khi doanh nghiệp nhập khẩu không trực tiếp sử dụng hàng hóa để sản xuất.
Xác định mã số HS mặt hàng hamburger theo tỷ lệ thành phần

Xác định mã số HS mặt hàng hamburger theo tỷ lệ thành phần

Cục Hải quan yêu cầu các chi cục hải quan khu vực rà soát việc phân loại mặt hàng hamburger, căn cứ tỷ lệ các thành phần trong sản phẩm để xác định mã số HS theo quy định.
Cần thống nhất cơ chế xử lý đối với hóa đơn giá trị gia tăng đầu vào bỏ sót

Cần thống nhất cơ chế xử lý đối với hóa đơn giá trị gia tăng đầu vào bỏ sót

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp thắc mắc khi phát hiện hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào bị bỏ sót sau khi kỳ tính thuế đã được cơ quan Thuế kiểm tra, giải quyết hoàn thuế có được tiếp tục kê khai, khấu trừ và đề nghị hoàn hay không. Chuyên gia Trần Văn Quân, Chủ tịch Công ty TNHH Tư vấn Vietnam Laws (VNLAWS) trao đổi cùng phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính một số nội dung liên quan vấn đề này.
Thống nhất phân loại hàng hóa, tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp gỗ

Thống nhất phân loại hàng hóa, tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp gỗ

Trước phản ánh của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam về tình trạng chưa thống nhất trong phân loại một số mặt hàng giữa các đơn vị hải quan địa phương, Cục Hải quan cho biết đang triển khai các giải pháp như thí điểm thông quan tập trung, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ xác định mã số hàng hóa và tăng cường đào tạo nghiệp vụ.
Hải quan lấy hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp làm thước đo quan hệ đối tác

Hải quan lấy hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp làm thước đo quan hệ đối tác

Từ hướng dẫn thủ tục, giải đáp kiến nghị đến đối thoại trực tiếp với doanh nghiệp, ngành Hải quan đang mở rộng các kênh hỗ trợ để xử lý vướng mắc phát sinh trong hoạt động xuất nhập khẩu. Cùng với đó, việc công khai đầu mối tiếp nhận phản ánh, nâng cao trách nhiệm công vụ và tăng cường tham vấn doanh nghiệp góp phần đưa quan hệ đối tác đi vào thực chất.
Hoàn thiện quy định hải quan về gia công, sản xuất xuất khẩu

Hoàn thiện quy định hải quan về gia công, sản xuất xuất khẩu

Các quy định về cơ sở sản xuất, báo cáo quyết toán, phân định trách nhiệm quản lý và trình tự thực hiện thủ tục đang được rà soát để phù hợp hơn với hoạt động gia công, sản xuất xuất khẩu và doanh nghiệp chế xuất.
Bài 3: Khi nền tảng thương mại số trở thành mắt xích thu thuế

Bài 3: Khi nền tảng thương mại số trở thành mắt xích thu thuế

Cơ chế khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay đang đưa các nền tảng thương mại điện tử tham gia trực tiếp hơn vào quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế của người kinh doanh. Tuy nhiên, từ xử lý đơn hàng hoàn trả, đối chiếu số thuế đã nộp giữa nhiều nền tảng đến quản lý giao dịch xuyên biên giới, thực tiễn đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế phối hợp và chia sẻ dữ liệu. Theo đó, trách nhiệm của nền tảng cần được gắn với khả năng hỗ trợ người nộp thuế kiểm tra, giải trình và điều chỉnh sai lệch, hướng tới bảo đảm nghĩa vụ thuế công bằng giữa các chủ thể kinh doanh.
Bài 2: Doanh thu thật nằm ở đâu trong dòng tiền bán hàng online?

Bài 2: Doanh thu thật nằm ở đâu trong dòng tiền bán hàng online?

Giá trị đơn hàng, số tiền nền tảng thu hộ và khoản tiền thực chuyển cho người bán có thể chênh lệch đáng kể do phí dịch vụ, khuyến mại, hoàn trả hàng và những khoản điều chỉnh khác, trong khi hoạt động kinh doanh đồng thời trên nhiều nền tảng khiến việc xác định doanh thu tính thuế ngày càng phức tạp. Yêu cầu đặt ra không chỉ là kiểm soát đầy đủ nguồn thu, mà còn phải xác định chính xác bản chất từng khoản tiền, tránh thất thu nhưng không làm phát sinh nghĩa vụ thuế trùng lặp.
Hải quan làm rõ điều kiện hoàn thuế giá trị gia tăng

Hải quan làm rõ điều kiện hoàn thuế giá trị gia tăng

Theo cơ quan Hải quan, việc sản phẩm được xuất khẩu sau khi hàng hóa nhập khẩu được đưa vào sản xuất không đồng nghĩa với trường hợp hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu để áp dụng chính sách hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT). Với Công ty TNHH xây dựng và dịch vụ tổng hợp Kim Ngân (Công ty Kim Ngân), việc xem xét khoản thuế đã nộp phải căn cứ vào loại hình khai báo, hồ sơ hải quan, hợp đồng và mục đích sử dụng hàng hóa.
Hải quan triển khai áp dụng mức thuế mới đối với xăng, dầu

Hải quan triển khai áp dụng mức thuế mới đối với xăng, dầu

Cục Hải quan vừa có công văn hỏa tốc yêu cầu các chi cục hải quan khu vực triển khai Nghị quyết số 43/2026/NQ-CP, trong đó kéo dài thời hạn áp dụng thuế nhập khẩu ưu đãi, thuế bảo vệ môi trường và thuế giá trị gia tăng đối với xăng, dầu, nguyên liệu sản xuất xăng, dầu và nhiên liệu bay đến hết ngày 31/12/2026.