Thứ sáu 28/08/2026 21:59
Thời tiết: Hà Nội 29°C
Đà Nẵng 31°C
Cà Mau 27°C
Hải Phòng 28°C
TP Hồ Chí Minh 28°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách / Diễn đàn
aa

Giảm trừ chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế: Quản lý bằng dữ liệu để đảm bảo công bằng

Thúy Nga (thực hiện)
Đề xuất cho phép giảm trừ chi phí y tế và giáo dục khi tính thuế TNCN được xem là bước tiến quan trọng trong cải cách chính sách cũng như góp phần hỗ trợ người nộp thuế. Tuy nhiên, theo ThS. Võ Thị Thục Viên, Tổng giám đốc Công ty Đào tạo Tư vấn thuế Sài Nam, Giảng viên doanh nhân Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở việc mở rộng giảm trừ, mà là cách thiết kế hệ thống quản lý để đảm bảo công bằng, minh bạch và hiệu quả.
Đề xuất mức trừ tối đa 47 triệu đồng/năm cho chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế TNCN 12 khoản thu nhập được đề xuất miễn hoặc giảm thuế Thu nhập cá nhân Đề xuất nâng mức miễn thuế TNCN đối với tiền ăn lên 1,2 triệu đồng/tháng Thu nhập vãng lai không phải quyết toán thuế có thể nâng lên 15 triệu đồng Kinh nghiệm quốc tế về giảm trừ thuế thu nhập cá nhân đối với chi tiêu y tế và giáo dục

Giảm trừ chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế: Quản lý bằng dữ liệu để đảm bảo công bằng
ThS. Võ Thị Thục Viên, Tổng giám đốc Công ty Đào tạo Tư vấn thuế Sài Nam.

Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật thuế TNCN đang được Bộ Tài chính đề xuất cho phép giảm trừ chi phí y tế và giáo dục trước khi tính thuế. Bà đánh giá như thế nào về tác động của đề xuất này đối với điều tiết thu nhập của người lao động?

Theo tôi, đây là một bước tiến rất tích cực trong điều tiết thu nhập theo hướng công bằng và nhân văn hơn. Hiện nay, pháp luật thuế TNCN chủ yếu áp dụng cơ chế giảm trừ gia cảnh cố định, bao gồm giảm trừ cho bản thân và người phụ thuộc. Cách làm này có ưu điểm là đơn giản, dễ áp dụng, nhưng lại chưa phản ánh đầy đủ các chi phí thiết yếu mang tính bắt buộc như y tế và giáo dục.

Thực tế, có những người có cùng mức thu nhập nhưng hoàn cảnh chi tiêu rất khác nhau. Có người phải dành phần lớn thu nhập cho việc chữa bệnh hoặc chi phí học tập của con cái, trong khi người khác gần như không có các khoản chi này. Nếu áp dụng cùng một mức giảm trừ, rõ ràng chưa phản ánh đúng khả năng nộp thuế thực tế.

Việc bổ sung các khoản chi phí y tế và giáo dục, nếu được thiết kế hợp lý sẽ giúp tăng tính công bằng theo cả 2 chiều.

Thứ nhất là, công bằng theo chiều ngang, tức là những người có cùng thu nhập nhưng chi phí khác nhau sẽ được điều tiết phù hợp hơn.

Thứ hai là, công bằng theo chiều dọc, người có thu nhập cao nhưng chi phí thấp sẽ phải chịu thuế cao hơn so với người có gánh nặng chi phí lớn.

Quan trọng hơn, cách tiếp cận này cũng giúp chính sách thuế của Việt Nam tiệm cận với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh một điểm, chính sách này chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi kèm với cơ chế kiểm soát dữ liệu và chứng từ đủ chặt chẽ. Nếu không rất dẫn đến nguy cơ rủi ro gian lận.

Nhiều ý kiến cho rằng việc được trừ thêm chi phí giáo dục, y tế… là hỗ trợ thiết thực nhất. Tuy nhiên, thực tế nhiều khoản chi như học phí chỉ có giấy xác nhận đã nộp hoặc biên lai chuyển khoản, chưa kể, doanh thu dưới 500 triệu đồng/năm không thuộc diện bắt buộc sử dụng hóa đơn nên khó cung cấp cho người nộp. Quy định phải có chứng từ hợp lệ để được giảm trừ có khiến người nộp thuế khó tiếp cận chính sách không? Quan điểm của bà về vấn đề này như thế nào?

Theo tôi, không nên nhìn nhận vấn đề này theo hướng là một rào cản hay mâu thuẫn chính sách, mà thực tế pháp luật hiện hành đã có cơ chế xử lý phù hợp đối với các trường hợp không có hóa đơn.

Cụ thể, đối với những trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ từ các đối tượng không bắt buộc phải xuất hóa đơn, pháp luật cho phép bên mua được lập bảng kê mua hàng hóa, dịch vụ theo quy định để làm căn cứ tính chi phí.

Tuy nhiên, điều kiện quan trọng đi kèm là về thanh toán. Các khoản chi có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên bắt buộc phải thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt. Đây là nguyên tắc rất nhất quán trong chính sách thuế nhằm kiểm soát dòng tiền và hạn chế rủi ro gian lận.

Giảm trừ chi phí y tế, giáo dục: Bước tiến công bằng thuế, nhưng phải quản lý bằng dữ liệu
Cho phép giảm trừ chi phí giáo dục là bước đi đúng hướng, thể hiện sự thay đổi trong tư duy chính sách.

Như vậy, có thể thấy, hệ thống pháp luật đã có một “cơ chế thay thế hóa đơn” trong những trường hợp đặc thù. Cơ chế này giúp không làm tăng gánh nặng hành chính cho các đơn vị nhỏ hoặc các hình thức cung cấp dịch vụ thực tế, nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi về chi phí hợp lệ cho người nộp thuế.

Vấn đề ở đây là các chứng từ thay thế như bảng kê phải thể hiện đầy đủ thông tin về bên cung cấp, nội dung dịch vụ, số tiền thanh toán…, đồng thời phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để chứng minh giao dịch là có thật.

Do đó, theo tôi, nếu được hướng dẫn rõ ràng, quy định về chứng từ không phải là rào cản, mà vẫn có thể đảm bảo vừa tạo điều kiện cho người nộp thuế, vừa kiểm soát được rủi ro. Nói cách khác, chính sách có thể linh hoạt trong hình thức, nhưng nguyên tắc kiểm soát thì vẫn phải được giữ chặt.

Việc mở rộng các khoản được khấu trừ chắc chắn sẽ làm gia tăng khối lượng kê khai và kiểm tra. Theo bà, cơ quan quản lý cần thiết kế chính sách như thế nào để hạn chế chi phí tuân thủ?

Đúng là khi bổ sung các khoản khấu trừ, chúng ta sẽ đối mặt với 3 áp lực lớn: tăng khối lượng kê khai, tăng áp lực kiểm tra và tăng chi phí tuân thủ. Theo tôi, giải pháp cần đi theo hướng “tự động hóa – đơn giản hóa – phân tầng”.

Thứ nhất: tự động hóa dữ liệu. Cơ quan Thuế cần xây dựng hệ thống kết nối với bệnh viện, trường học và ngân hàng. Khi đó, dữ liệu chi phí của người nộp thuế có thể được tự động tổng hợp, thay vì họ phải tự kê khai và lưu giữ hàng loạt chứng từ. Đây là nền tảng quan trọng để giảm gánh nặng hành chính.

Thứ hai: phân tầng người nộp thuế. Không nên áp dụng cùng một mức độ kiểm soát cho tất cả. Ví dụ, với người có thu nhập thấp, có thể áp dụng cơ chế khoán chi phí hoặc đơn giản hóa yêu cầu chứng từ. Ngược lại, với người thu nhập cao, cần yêu cầu chứng từ đầy đủ và kiểm tra sâu hơn.

Thứ ba: đơn giản hóa thủ tục. Khi dữ liệu đã được số hóa, hoàn toàn có thể triển khai cơ chế kê khai sẵn, thậm chí tiến tới quyết toán tự động. Người nộp thuế chỉ cần kiểm tra và xác nhận, thay vì phải làm toàn bộ quy trình như hiện nay.

Điểm mấu chốt là trao quyền lợi cho người dân nhưng không được làm tăng gánh nặng.

Ở góc độ hoàn thiện chính sách, bà có đề xuất gì để đảm bảo hài hòa giữa hỗ trợ người nộp thuế và chống thất thu?

Có một nguyên tắc rất quan trọng: chính sách thuế hiện đại không thể chỉ dựa vào chứng từ, mà phải dựa vào dữ liệu. Trước đây, chúng ta quen với việc kiểm soát bằng hóa đơn, giấy tờ. Nhưng trong bối cảnh kinh tế số, cách tiếp cận đó dần bộc lộ hạn chế. Chứng từ có thể bị làm giả hoặc hợp thức hóa, nhưng dữ liệu liên thông từ nhiều nguồn thì khó bị thao túng hơn.

Do đó, cần chuyển từ “quản lý bằng chứng từ” sang “quản lý bằng dữ liệu”. Điều này đòi hỏi phải xây dựng hệ sinh thái dữ liệu kết nối giữa cơ quan thuế, ngân hàng, cơ sở y tế, cơ sở giáo dục.

Bên cạnh đó, việc phân tầng người nộp thuế cũng rất quan trọng. Không thể dàn trải nguồn lực kiểm tra cho tất cả, mà cần tập trung vào nhóm có rủi ro cao. Nếu làm tốt, chúng ta có thể đạt được 3 mục tiêu: hỗ trợ người nộp thuế, kiểm soát thất thu và tối ưu chi phí quản lý.

Tóm lại, về tổng thể, tôi cho rằng việc cho phép giảm trừ chi phí y tế và giáo dục là một bước đi đúng hướng. Nó thể hiện sự thay đổi trong tư duy chính sách – từ chỗ ưu tiên đơn giản sang chú trọng công bằng và thực chất hơn.

Nhưng điều quan trọng hơn là cách chúng ta triển khai. Nếu chỉ dừng ở việc mở rộng khấu trừ mà không cải thiện hệ thống quản lý, thì hiệu quả sẽ rất hạn chế. Ngược lại, nếu kết hợp được chính sách đúng với hạ tầng dữ liệu đủ mạnh và quy trình quản lý thông minh, đây sẽ là một bước nâng cấp đáng kể của hệ thống thuế. Khi đó, câu chuyện sẽ không còn là “thu bao nhiêu”, mà là “thu như thế nào cho công bằng và hiệu quả”. Đó mới là mục tiêu dài hạn của cải cách thuế.

Xin trân trọng cảm ơn Bà!

Tin bài có thể bạn quan tâm

Ngăn chặn gian lận hóa đơn bằng AI: Đề xuất ứng dụng mô hình quản lý đa tầng

Ngăn chặn gian lận hóa đơn bằng AI: Đề xuất ứng dụng mô hình quản lý đa tầng

Trong bối cảnh nền kinh tế số phát triển vượt bậc, việc ứng dụng công nghệ đa tầng để quản lý thuế là xu hướng không thể đảo ngược của thế giới. Là quốc gia tiếp cận sau, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để tận dụng ngay những công nghệ dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.
Tháo "nút thắt" cho doanh nghiệp nhập khẩu hàng tân trang

Tháo "nút thắt" cho doanh nghiệp nhập khẩu hàng tân trang

Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 77/2023/NĐ-CP và Nghị định số 66/2024/NĐ-CP về quản lý nhập khẩu hàng hóa tân trang theo Hiệp định CPTPP, EVFTA, UKFTA (gọi tắt dự thảo) đang mở hướng quản lý mới cho hàng hóa tân trang nhập khẩu. Tuy nhiên, để biến cơ hội thành lợi thế, Luật sư Nguyễn Văn Chí (Công ty Luật TNHH Chân Thiện Mỹ, Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh) cho rằng doanh nghiệp cần chuẩn bị kỹ năng lực kiểm soát hàng hóa và tuân thủ quy định.
Đề xuất nâng ngưỡng doanh thu kê khai lên 10 tỷ đồng: Phù hợp với quy mô và năng lực thực tế của hộ kinh doanh

Đề xuất nâng ngưỡng doanh thu kê khai lên 10 tỷ đồng: Phù hợp với quy mô và năng lực thực tế của hộ kinh doanh

Việc Bộ Tài chính nghiên cứu nâng mức doanh thu để hộ, cá nhân kinh doanh được lựa chọn áp dụng phương pháp thuế đơn giản từ 3 tỷ đồng lên 10 tỷ đồng/năm được kỳ vọng tạo thêm vùng chuyển tiếp khi hộ kinh doanh mở rộng quy mô. Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, điều quan trọng là hạn chế những “bước nhảy” quá lớn về nghĩa vụ và chi phí tuân thủ.
Số hóa thủ tục thuế: Giảm chi phí tuân thủ, gia tăng cạnh tranh cho hàng Việt

Số hóa thủ tục thuế: Giảm chi phí tuân thủ, gia tăng cạnh tranh cho hàng Việt

Số hóa thủ tục thuế đang từng bước thay đổi cách doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, theo hướng nhanh hơn, minh bạch hơn và giảm chi phí tuân thủ. Với doanh nghiệp xuất khẩu, mỗi khâu được đơn giản hóa, mỗi giờ chờ được rút ngắn không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn tạo thêm dư địa để đầu tư, mở rộng thị trường và nâng sức cạnh tranh cho hàng Việt. ThS. Nguyễn Ngọc Minh An, Khoa Kinh tế, Trường Đại học Mở Hà Nội cho rằng, cải cách thủ tục thuế không chỉ là câu chuyện hành chính, mà phải trở thành một bộ phận của năng lực cạnh tranh quốc gia.
Nâng ngưỡng doanh thu tính thuế lên 10 tỷ đồng: Bước đi chiến lược tháo gỡ rào cản cho hộ kinh doanh

Nâng ngưỡng doanh thu tính thuế lên 10 tỷ đồng: Bước đi chiến lược tháo gỡ rào cản cho hộ kinh doanh

Chính phủ đang nghiên cứu nâng ngưỡng doanh thu tính thuế từ 3 tỷ đồng lên 10 tỷ đồng/năm. Các chuyên gia về thuế cho rằng, khi chính sách này được thông qua sẽ tạo “khoảng đệm” cần thiết, giúp các hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ giảm chi phí tuân thủ, mở rộng quy mô, hướng tới sự minh bạch và chuyên nghiệp.
Hướng dẫn xử lý hóa đơn điện tử có sai sót theo các quy định mới

Hướng dẫn xử lý hóa đơn điện tử có sai sót theo các quy định mới

Hóa đơn điện tử hiện nay đã trở thành một phần quen thuộc trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng vẫn có thể phát sinh sai sót tên, địa chỉ, mã số thuế, sai đơn giá, thuế suất, tiền thuế... Vậy khi phát hiện hóa đơn sai sót thì phải xử lý thế nào?
Hoàn thuế giá trị gia tăng: Dữ liệu mở đường, doanh nghiệp hưởng lợi

Hoàn thuế giá trị gia tăng: Dữ liệu mở đường, doanh nghiệp hưởng lợi

Rút ngắn thời gian hoàn thuế nhưng vẫn kiểm soát chặt gian lận đang là trọng tâm hướng đến của ngành Thuế. Việc đẩy mạnh dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa giúp chuyển từ kiểm soát dàn trải sang quản lý theo rủi ro, qua đó hoàn nhanh hơn cho doanh nghiệp đủ điều kiện và khơi thông dòng tiền. Xung quanh vấn đề này, phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính đã trao đổi với chuyên gia, TS Giang Thị Trang, Khoa Kế toán, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh.
Đề xuất giảm 30% thuế: Chính sách hỗ trợ đang sát với thực tế vận hành của thị trường

Đề xuất giảm 30% thuế: Chính sách hỗ trợ đang sát với thực tế vận hành của thị trường

Trong bối cảnh doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ và cá nhân kinh doanh chịu nhiều sức ép từ chi phí, vốn và thị trường, đề xuất giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp trong hai năm 2026-2027 của Chính phủ được kỳ vọng tạo thêm nguồn lực cho khu vực kinh doanh quy mô nhỏ. Theo bà Phạm Thị Xuân, Viện trưởng Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số, giá trị của chính sách này không chỉ nằm ở số thuế được giảm, mà còn ở khả năng giải phóng dòng tiền để doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh duy trì sản xuất, đầu tư, mở rộng thị trường và nâng cao sức cạnh tranh.
Chủ động kiểm soát hóa đơn, hạn chế rủi ro trong thực hiện nghĩa vụ thuế

Chủ động kiểm soát hóa đơn, hạn chế rủi ro trong thực hiện nghĩa vụ thuế

Theo chuyên gia Bùi Như Hiển, Phó trưởng Bộ môn Kinh doanh (Khoa Kinh doanh và Logistics, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh), người nộp thuế cần chủ động cập nhật chính sách, kiểm soát chặt chẽ từng khâu, bảo đảm hóa đơn được lập, sử dụng đúng quy định ngay từ đầu.
Giảm trừ y tế, giáo dục khi tính thuế thu nhập cá nhân: Căn cứ vào chi phí thực tế

Giảm trừ y tế, giáo dục khi tính thuế thu nhập cá nhân: Căn cứ vào chi phí thực tế

Chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN) mới bổ sung khoản giảm trừ đối với chi phí y tế, giáo dục - đào tạo tối đa 47 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, chuyên gia thuế Nguyễn Văn Phụng lưu ý, khoản giảm trừ thực tế được xác định trên cơ sở số tiền người nộp thuế thực tế chi trả và đáp ứng các điều kiện về chứng từ, nguồn thanh toán.
Chính sách tài khóa tiếp sức doanh nghiệp, tạo động lực cho tăng trưởng

Chính sách tài khóa tiếp sức doanh nghiệp, tạo động lực cho tăng trưởng

Theo TS. Phan Hoài Nam, Tổng giám đốc Hãng tư vấn W&A, Trọng tài viên VIAC, trong bối cảnh nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số, chính sách tài khóa không chỉ đáp ứng yêu cầu quản lý ngân sách mà còn cần tạo thuận lợi cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Giảm chi phí tuân thủ, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục và giải phóng dòng tiền là những yếu tố có thể tạo tác động trực tiếp tới quyết định của doanh nghiệp.
Bao bì không đạt chuẩn, hàng Việt Nam khó vào EU

Bao bì không đạt chuẩn, hàng Việt Nam khó vào EU

Quy định mới của Liên minh châu Âu (EU) về bao bì và rác thải bao bì có hiệu lực từ ngày 12/8/2026, đặt ra yêu cầu ngày càng cao về tái chế, tái sử dụng, vật liệu tái chế và kiểm soát hóa chất. Chuyên gia Nguyễn Ngọc Linh, Giám đốc Thương hiệu Easy Export, Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số cảnh báo, doanh nghiệp xuất khẩu không nên xem nhẹ, chỉ coi bao bì là phần phụ của sản phẩm, bởi đây là mắt xích quyết định khả năng tiếp cận thị trường EU.
Cần nhận diện và đánh giá đúng sức mạnh trong các mô hình kinh doanh mới

Cần nhận diện và đánh giá đúng sức mạnh trong các mô hình kinh doanh mới

Thương mại xuyên biên giới đang làm xuất hiện những nguồn sức mạnh thị trường mới từ nền tảng số, dữ liệu, hiệu ứng mạng đến hệ sinh thái kinh doanh. Theo ông Nguyễn Tấn Phong, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), hoàn thiện chính sách cạnh tranh không chỉ phải theo kịp các mô hình kinh doanh mới mà còn cần đủ rõ để doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp xuất nhập khẩu, có thể dự báo rủi ro và chủ động tuân thủ.
Doanh nghiệp cần sử dụng công cụ thuế điện tử để quản trị tuân thủ

Doanh nghiệp cần sử dụng công cụ thuế điện tử để quản trị tuân thủ

Tạm hoãn xuất cảnh vì nghĩa vụ thuế chưa hoàn thành không chỉ là một biện pháp cưỡng chế, mà đang được đặt trong một quy trình quản lý dựa trên dữ liệu, cảnh báo sớm và xử lý kịp thời. Theo Luật sư Đỗ Trung Việt, Công ty Luật TNHH Chân Thiện Mỹ (Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh), yêu cầu quan trọng nhất hiện nay là bảo đảm “đúng người, đúng điều kiện, đúng dữ liệu”. Đồng thời doanh nghiệp và người nộp thuế phải chủ động hơn nữa trong kiểm soát nghĩa vụ thuế.
Codex cập nhật 72 phụ gia: Doanh nghiệp xuất nhập khẩu thực phẩm cần lưu ý

Codex cập nhật 72 phụ gia: Doanh nghiệp xuất nhập khẩu thực phẩm cần lưu ý

Codex cập nhật 72 phụ gia với 304 điều khoản sử dụng trong Tiêu chuẩn chung Codex về Phụ gia thực phẩm (GSFA). Điều này kéo theo những thay đổi, tác động nhất định đến công thức, hồ sơ, nhãn hàng hóa và điều kiện tiếp cận thị trường của doanh nghiệp. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế - Tài chính, TS Đào Cao Sơn, Phó trưởng Bộ môn Quản trị thương hiệu và Sở hữu trí tuệ, Trường Đại học Thương mại khuyến nghị doanh nghiệp chủ động rà soát để hạn chế chi phí phát sinh, chậm thông quan và rủi ro khi xuất khẩu.