| Bài 8: Đề xuất giảm trừ chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế TNCN - Nhân văn nhưng cần tiêu chí rõ ràng Đưa chi phí y tế, giáo dục vào thu nhập tính giảm trừ thuế TNCN |
Tổng mức giảm trừ có thể lên 307,4 triệu đồng/năm
Theo cơ quan soạn thảo, Luật thuế TNCN số 109/2025/QH15 đã nâng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng/tháng đối với bản thân người nộp thuế và 6,2 triệu đồng/tháng đối với mỗi người phụ thuộc, tăng hơn 40% so với quy định trước đây.
Ngoài ra, để hỗ trợ thêm cho người nộp thuế, Luật thuế TNCN số 109/2025/QH15 cũng bổ sung quy định giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo; các khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc…
Tại dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật thuế TNCN, Bộ Tài chính bổ sung quy định cho phép tính thêm chi phí y tế và giáo dục – đào tạo vào các khoản được trừ trước khi xác định thu nhập chịu thuế đối với cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công.
Dự thảo xây dựng 2 phương án mức chi phí y tế và giáo dục – đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc được trừ vào thu nhập chịu thuế đối với cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công.
Phương án 1: quy định tối đa 20 triệu đồng/năm đối với chi phí khám chữa bệnh và 21 triệu đồng/năm đối với chi phí giáo dục – đào tạo. Mức này được đưa ra căn cứ vào mức chi tiêu bình quân y tế, giáo dục – đào tạo được cung cấp đến thời điểm 2026.
Phương án 2: nâng các mức này lên lần lượt 23 triệu đồng/năm và 24 triệu đồng/năm. Mức này đã được tính đến dự trù cho các năm tiếp theo, đảm bảo với thông lệ quốc tế.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Như vậy, với đề xuất này thì đây là lần đầu tiên, chi phí thực tế dành cho các nhu cầu thiết yếu như khám chữa bệnh, học tập của cả người nộp thuế và người phụ thuộc đều được đưa trực tiếp vào công thức tính thu nhập chịu thuế, thay vì chỉ áp dụng mức giảm trừ mang tính bình quân như trước.
Theo tính toán của Bộ Tài chính, với mỗi người nộp thuế có 1 người phụ thuộc và phát sinh các khoản chi phí y tế, giáo dục- đào tạo, thì theo phương án 2, tổng số tiền được trừ lên tới 307,4 triệu đồng/năm, tương đương hơn 25 triệu đồng/tháng (chưa bao gồm các khoản bảo hiểm bắt buộc).
Cụ thể: các khoản được tính giảm trừ = 186 triệu đồng/năm từ giảm trừ bản thân người nộp thuế (15,5 triệu đồng/tháng x 12 tháng) + 74,4 triệu đồng/năm cho 1 người phụ thuộc (6,2 triệu đồng/tháng/người x 12 tháng) + 23 triệu đồng/năm giảm trừ chi phí y tế + 24 triệu đồng/năm giảm trừ giáo dục - đào tạo.
Như vậy, 1 cá nhân có thu nhập khoảng 28 triệu đồng/tháng và có 1 người phụ thuộc, đồng thời phát sinh đầy đủ chi phí y tế, giáo dục – đào tạo theo mức tối đa, thì phần thu nhập còn lại sau khi trừ các khoản có thể chưa đến mức phải nộp thuế. Ngưỡng bắt đầu phát sinh thuế được xác định từ khoảng trên 28,63 triệu đồng/tháng với thuế suất bắt đầu 5%.
Điều này cũng đồng nghĩa với việc cùng một mức thu nhập danh nghĩa, nghĩa vụ thuế có thể thay đổi đáng kể tùy thuộc vào chi phí thực tế của từng cá nhân. Cách tiếp cận này khác với trước đây, khi phần lớn người nộp thuế có cùng mức giảm trừ bất kể mức chi tiêu.
Theo ước tính, nếu áp dụng phương án 2, số giảm thu ngân sách vào khoảng 7.697 tỷ đồng/năm trong trường hợp người nộp thuế phát sinh đầy đủ các khoản chi và được áp dụng mức tối đa.
Phải đảm bảo điều kiện áp dụng
Dự thảo cũng quy định rõ phạm vi các khoản chi được tính giảm trừ. Đối với y tế, đó là các chi phí khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở trong nước, không bao gồm phần đã được bảo hiểm y tế chi trả. Đối với giáo dục, khoản được trừ là học phí từ mầm non đến đại học, giáo dục nghề nghiệp và các khóa đào tạo kỹ năng tại cơ sở hợp pháp.
Đặc biệt, để đảm bảo không bị trùng lắp về chính sách, dự thảo đưa ra các điều kiện chặt chẽ.
Trước hết là yêu cầu về chứng từ. Mọi khoản chi phải có hóa đơn hợp lệ theo quy định; riêng chi phí y tế phải kèm bảng kê chi tiết từ cơ sở khám chữa bệnh. Đây là yếu tố quyết định việc khoản chi có được chấp nhận hay không.
Bên cạnh đó, các khoản chi đã được thanh toán từ nguồn khác như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, ngân sách nhà nước hoặc do người sử dụng lao động chi trả sẽ không được tính giảm trừ.
Ngoài ra, dự thảo cũng loại trừ trường hợp người nộp thuế đã áp dụng cơ chế giảm thuế khác đối với chi phí y tế để tránh chồng chéo chính sách. Như vậy, việc được áp dụng mức giảm trừ phụ thuộc vào chứng từ và nguồn chi trả của từng khoản chi.
Việc bổ sung thêm khoản giảm trừ riêng cho y tế và giáo dục – đào tạo được xác định là phần hỗ trợ bổ sung, không thay thế các khoản giảm trừ hiện có. Điều này không chỉ hỗ trợ thêm một phần chi phí, mà còn thể hiện nguyên tắc “công bằng” và “khả năng nộp thuế”, có tính đến đặc thù, hoàn cảnh của người nộp thuế.
Quy định này cũng cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Về lâu dài, chính sách này sẽ góp phần khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào y tế và giáo dục – đào tạo, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cũng như giảm gánh nặng thuế, tăng thu nhập khả dụng.
Thực tế hiện nay, nhiều quốc gia sử dụng công cụ giảm trừ hoặc khấu trừ thuế TNCN đối với chi tiêu y tế và giáo dục – đào tạo như một giải pháp chính sách nhằm chia sẻ rủi ro với hộ gia đình, khuyến khích đầu tư cho nguồn nhân lực và bảo đảm an sinh xã hội.