Chủ nhật 12/07/2026 21:33
Thời tiết: Hà Nội 29°C
Đà Nẵng 29°C
Cà Mau 26°C
Hải Phòng 28°C
TP Hồ Chí Minh 27°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách / Diễn đàn
aa

Bài 8: Đề xuất giảm trừ chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế TNCN - Nhân văn nhưng cần tiêu chí rõ ràng

Thúy Nga (thực hiện)
Đề xuất bổ sung giảm trừ trước khi tính thuế đối với một số khoản chi thiết yếu như y tế, giáo dục – đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc, bao gồm bố mẹ, vợ - chồng, con được đánh giá là bước tiến nhân văn, tiệm cận hơn với thực tế chi tiêu của người dân và thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Được, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Kế toán và Tư vấn thuế Trọng Tín, Ủy viên thường trực Hội tư vấn thuế Việt Nam, việc thiết kế chính sách cần có tiêu chí cụ thể, phạm vi áp dụng hợp lý để bảo đảm công bằng, minh bạch và tránh bị lợi dụng sai mục đích.
Bài 8: Đề xuất giảm trừ chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế TNCN - Nhân văn nhưng cần tiêu chí rõ ràng
Ông Nguyễn Văn Được, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Kế toán và Tư vấn thuế Trọng Tín, Ủy viên thường trực Hội tư vấn thuế Việt Nam.

Dự thảo Luật Thuế TNCN thay thế lần này đã bổ sung quy định cho phép giảm trừ đối với một số khoản chi như y tế, giáo dục – đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc là bố mẹ, vợ/chồng, con cái. Ông đánh giá như thế nào về mức mở rộng này?

Tôi cho rằng đây là bước tiến đáng ghi nhận. Bộ Tài chính đã lắng nghe ý kiến của người dân, cộng đồng doanh nghiệp và đặc biệt là người nộp thuế trong việc bổ sung các khoản giảm trừ có tính đến hoàn cảnh thực tế, như chi phí khám chữa bệnh, học phí.

Tuy nhiên, nên có phạm vi áp dụng hợp lý. Với chi phí giáo dục, chỉ nên áp dụng giảm trừ cho người nộp thuế và con cái – những người họ trực tiếp có trách nhiệm chi trả. Không nên áp dụng đối với chi phí học tập cho bố mẹ hoặc vợ/chồng, bởi điều này dễ dẫn đến lạm dụng và khó kiểm soát.

Đồng thời, cũng cần giới hạn phạm vi giáo dục được tính giảm trừ – chỉ nên bao gồm các bậc học theo hệ thống giáo dục như mầm non, phổ thông, đại học. Không nên mở rộng sang các chương trình cao học hay đào tạo đặc thù khác.

Với một gia đình lao động tại thành phố, mỗi tháng phải trả học phí cho hai con, cộng thêm chi phí điều trị bệnh không được bảo hiểm chi trả, thì tổng số tiền đó có thể lên tới hàng chục triệu đồng mỗi năm.

Nếu được giảm trừ trước khi tính thuế, chính sách sẽ giúp giảm gánh nặng đáng kể và phản ánh đúng khả năng chi trả thực tế của người dân.

Riêng về chi phí y tế, ông có khuyến nghị gì khi thiết kế chính sách giảm trừ thuế?

Tôi đồng tình với việc cho phép giảm trừ đối với người nộp thuế và người phụ thuộc hợp pháp. Tuy nhiên, cần làm rõ: nếu khoản chi đã được bảo hiểm y tế, hoặc bảo hiểm thương mại chi trả, thì không được tính vào chi phí được giảm trừ.

Ngoài ra, nên quy định mức giảm trừ tối đa theo tỷ lệ nhất định so với thu nhập chịu thuế, nhằm đảm bảo công bằng giữa các đối tượng người nộp thuế, tránh việc người có thu nhập cao lại được hưởng lợi nhiều hơn.

Có thể cân nhắc mức giảm trừ tính trên cơ sở chi phí thực tế nhưng không vượt quá một tỷ lệ nhất định so với thu nhập chịu thuế.

Đề cập kinh nghiệm quốc tế, có ý kiến cho rằng, trong các khoản giảm trừ nên chăng mở rộng thêm cả bảo hiểm y tế, đóng góp từ thiện, lãi vay mua nhà…?

Các khoản như đóng góp từ thiện, nhân đạo, quỹ khuyến học đã được pháp luật hiện hành quy định và được kế thừa trong dự thảo lần này.

Tuy nhiên, trước đây việc xác định khoản đóng góp hợp lệ còn bị giới hạn theo hình thức hoặc qua các tổ chức nhất định. Lần này, dự thảo mở rộng, bao quát hơn, bao gồm cả đóng góp thông qua doanh nghiệp xã hội, tổ chức được cấp phép hoạt động thiện nguyện, là một bước tiến hợp lý.

Tại một số nước như Singapore, Nhật Bản…, người nộp thuế có thể được khấu trừ thuế cho chi phí học phí của con cái, mua bảo hiểm y tế hoặc chi phí chăm sóc cha mẹ già. Các khoản viện phí vượt ngưỡng quy định cũng được tính giảm trừ thuế.

Việc Việt Nam bổ sung các khoản tương tự cho thấy nỗ lực tiệm cận thông lệ quốc tế.

Đối với ý kiến đề xuất cho phép giảm trừ lãi vay mua nhà, tôi cho rằng chưa nên áp dụng. Khoản chi phí này liên quan đến việc hình thành tài sản - cụ thể là bất động sản. Nếu cho phép giảm trừ sẽ không phù hợp với nguyên tắc phân loại thu nhập, dễ gây nhầm lẫn giữa thu nhập từ tiền lương và thu nhập từ hoạt động đầu tư , kinh doanh bất động sản.

Mặt khác, chi phí lãi vay và các khoản chi phí có liên quan đến tạo lập bất động sản là một khoản chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế và thuế suất 20% như dự thảo luật đã nêu khi xác định thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản và như vậy, không thể một chi phí được tính cho loại thu nhập.

Bài 8: Đề xuất giảm trừ chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế TNCN - Nhân văn nhưng cần tiêu chí rõ ràng
Một số khoản chi như chi phí y tế được đề xuất đưa vào khoản giảm trừ khi tính thuế TNCN. Ảnh: TN.

Tuy nhiên, cần cân nhắc đưa vào các khoản khác thực sự mang tính chất sinh hoạt thiết yếu, như chi phí thuê nhà ở cho người lao động - đặc biệt tại các đô thị lớn. Đây là khoản chi phổ biến, có thể định lượng, dễ kiểm soát và góp phần hỗ trợ an sinh xã hội. Nếu có cơ chế kiểm soát minh bạch, đây là khoản có thể xem xét đư vào trong tương lai.

Dự thảo giao Chính phủ quy định mức giảm trừ thay vì ghi cứng trong luật như trước đây. Theo ông, điều này có bảo đảm tính linh hoạt mà vẫn giữ được sự ổn định cho người nộp thuế?

Đây là cách làm tiến bộ. Giao cho Chính phủ chủ động điều chỉnh mức giảm trừ là hợp lý, vì Chính phủ là cơ quan trực tiếp điều hành kinh tế – xã hội, nắm bắt kịp thời các biến động về giá cả, đời sống người dân, thị trường lao động...

Cách làm này giúp chính sách thuế phản ứng nhanh hơn, khắc phục tình trạng chậm điều chỉnh như trước đây – điển hình là quy định cũ yêu cầu CPI tăng 20% mới được điều chỉnh, gây độ trễ và bất cập.

Tuy nhiên, cũng cần quy định một ngưỡng biến động (ví dụ 5–10%) để làm căn cứ điều chỉnh, vừa tạo hành lang pháp lý rõ ràng, vừa giữ được tính ổn định của chính sách thuế.

Đồng thời, việc điều chỉnh mức giảm trừ cần xét đến nhiều yếu tố ngoài CPI như mặt bằng thu nhập, mức sống tối thiểu, nhu cầu thiết yếu của người dân, để chính sách không chỉ chính xác về số liệu mà còn hợp lòng dân.

Về lâu dài, chúng ta nên xây dựng một bộ chỉ số chi phí sinh hoạt cơ bản hoặc "rổ chi tiêu tối thiểu" làm căn cứ xác lập mức giảm trừ phù hợp. Như vậy, chính sách thuế TNCN sẽ vừa chính xác, vừa phản ánh đúng thực tế chi tiêu của người dân.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

TỪ KHOÁ:

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trước “bài kiểm tra” mới về chất lượng hàng hóa

Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trước “bài kiểm tra” mới về chất lượng hàng hóa

Thông tư số 34/2026/TT-BCT chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, đặt ra nhiều yêu cầu mới trong quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Trao đổi với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính, TS Khúc Đại Long, Phó Trưởng khoa Marketing, Trường Đại học Thương mại đã phân tích những nội dung doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý khi tham gia hoạt động xuất nhập khẩu.
Đòn bẩy thuế và phí giúp hàng Việt chiếm lĩnh sân nhà

Đòn bẩy thuế và phí giúp hàng Việt chiếm lĩnh sân nhà

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, việc xây dựng một nền kinh tế tự chủ bắt đầu từ chính thị trường nội địa. Các chính sách ưu đãi thuế, phí không chỉ là công cụ tài chính đơn thuần, mà còn tiếp sức cho doanh nghiệp Việt nâng cao năng lực cạnh tranh và khơi dậy tinh thần tự hào dân tộc trong mỗi quyết định tiêu dùng của người dân.
Doanh nghiệp cần biết quy định mới của EU về mã định danh sản phẩm

Doanh nghiệp cần biết quy định mới của EU về mã định danh sản phẩm

Từ cuối năm 2026, hàng hóa nhập khẩu vào Liên minh châu Âu (EU) sẽ phải có mã định danh sản phẩm (Product Identifier - PID) trên tờ khai hải quan. Đây là bước đi mới trong chiến lược số hóa hải quan và tăng cường truy xuất nguồn gốc của EU, dự báo sẽ tác động trực tiếp đến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính đã trao đổi với ông Dương Tiến Dũng, Chủ tịch Liên đoàn Doanh nghiệp nhỏ và vừa châu Á (ASBF) tại Việt Nam, để làm rõ lộ trình triển khai cũng như những việc doanh nghiệp cần chuẩn bị ngay từ bây giờ.
Cuộc chiến chống gian lận hoàn thuế GTGT: Nhận diện thủ đoạn để bảo vệ ngân sách

Cuộc chiến chống gian lận hoàn thuế GTGT: Nhận diện thủ đoạn để bảo vệ ngân sách

Trong nền kinh tế thị trường, thuế giá trị gia tăng (GTGT) không chỉ là nguồn thu trụ cột của ngân sách mà còn là công cụ thúc đẩy xuất khẩu. Tuy nhiên, lợi dụng sự thông thoáng của chính sách, một số đối tượng tội phạm đã thành lập doanh nghiệp ma và chuỗi cung ứng ảo, nhằm chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước với thủ đoạn ngày càng tinh vi.
Mỗi sản phẩm cần một “danh tính số” để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Mỗi sản phẩm cần một “danh tính số” để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Tem chống giả hay mã QR không còn là “lá chắn” tuyệt đối trước hàng giả. Theo bà Phạm Thị Xuân, Viện trưởng Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số, khi hành vi làm giả ngày càng tinh vi, trọng tâm của cuộc chiến chống hàng xâm phạm sở hữu trí tuệ (SHTT) không còn nằm ở việc kiểm tra sản phẩm, mà phải chuyển sang xác thực dữ liệu và kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng.
Phòng chống gian lận hóa đơn điện tử: Hiệu quả từ quản lý rủi ro dựa trên dữ liệu lớn

Phòng chống gian lận hóa đơn điện tử: Hiệu quả từ quản lý rủi ro dựa trên dữ liệu lớn

Trong bối cảnh nền kinh tế số phát triển mạnh mẽ, hóa đơn điện tử (HĐĐT) đã trở thành công cụ then chốt thúc đẩy tính minh bạch. Tuy nhiên, đi kèm với đó là những thủ đoạn gian lận tinh vi, có tổ chức. Để xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm, ngành Thuế đã đẩy mạnh ứng dụng thông tin vào công tác quản lý. Đặc biệt là triển khai Ứng dụng cảnh báo HĐĐT vượt ngưỡng an toàn và Ứng dụng đối chiếu dữ liệu tờ khai thuế GTGT với HĐĐT, bước đầu đã mang lại những kết quả tích cực.
Minh bạch và khả năng dự báo chính sách thuế ngày càng quan trọng với nhà đầu tư

Minh bạch và khả năng dự báo chính sách thuế ngày càng quan trọng với nhà đầu tư

Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng gia tăng, tính minh bạch, khả năng dự báo và mức độ ổn định của chính sách thuế đang trở thành những yếu tố được nhà đầu tư đặc biệt quan tâm. Đây cũng là nội dung được các chuyên gia chia sẻ tại Tọa đàm “Lãnh đạo thuế trong Kỷ nguyên mới - Góc nhìn toàn cầu và thực tiễn tại Việt Nam” diễn ra ngày 24/6.
Định hướng tăng thêm 30 cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm, tạo thuận lợi cho xuất khẩu

Định hướng tăng thêm 30 cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm, tạo thuận lợi cho xuất khẩu

Dự kiến sẽ có thêm khoảng 30 cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm được bổ sung trên cả nước trong thời gian tới, cùng với việc xây dựng hai trung tâm kiểm nghiệm mới tại Khánh Hòa và Thành phố Hồ Chí Minh. Động thái này nằm trong lộ trình nâng cao năng lực quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) theo chuỗi cung ứng, tăng khả năng cảnh báo sớm nguy cơ và hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Thêm công cụ nhận diện, truy vết hàng giả trong thương mại điện tử

Thêm công cụ nhận diện, truy vết hàng giả trong thương mại điện tử

Bổ sung khái niệm “hàng giả” trực tiếp vào Luật Thương mại và gắn mã định danh riêng cho từng bưu kiện là hai đề xuất đáng chú ý đang được cơ quan quản lý xây dựng. Trong bối cảnh thương mại điện tử (TMĐT) phát triển nhanh, các chính sách này được kỳ vọng tạo nền tảng pháp lý thống nhất để nhận diện, truy vết và xử lý vi phạm, đồng thời tăng tính minh bạch cho hoạt động lưu thông hàng hóa.
Đề xuất mở rộng ưu đãi thuế, tín dụng xanh cho ngành nhiên liệu sinh học

Đề xuất mở rộng ưu đãi thuế, tín dụng xanh cho ngành nhiên liệu sinh học

Hàng loạt ưu đãi về thuế, đầu tư và tài chính xanh đang được áp dụng cho các dự án nhiên liệu sinh học. Cùng với việc triển khai xăng E10 trên toàn quốc, đây được xem là nền tảng quan trọng để thúc đẩy phát triển thị trường trong giai đoạn mới.
Hoàn thuế GTGT doanh nghiệp lớn: Truy vết rủi ro qua chuỗi cung ứng nhiều tầng

Hoàn thuế GTGT doanh nghiệp lớn: Truy vết rủi ro qua chuỗi cung ứng nhiều tầng

Trong bối cảnh xuất khẩu mở rộng, hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) vừa hỗ trợ doanh nghiệp cải thiện dòng tiền, nâng cao năng lực cạnh tranh, vừa là lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng để gian lận, chiếm đoạt ngân sách. Thực tiễn giải quyết hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau tại Chi cục Thuế doanh nghiệp lớn (Cục Thuế) cho thấy công tác quản lý không thể chỉ dừng ở đối chiếu hồ sơ, hóa đơn, mà phải truy vết dòng hàng, dòng tiền và các mắt xích trong chuỗi cung ứng nhiều tầng.
Nhận diện thủ đoạn trục lợi hoàn thuế qua sàn thương mại điện tử

Nhận diện thủ đoạn trục lợi hoàn thuế qua sàn thương mại điện tử

Sự phát triển nhanh của thương mại điện tử (TMĐT) mở ra không gian kinh doanh mới, nhưng cũng tạo ra những “điểm mù” trong quản lý thuế nếu giao dịch, dòng tiền và vận chuyển hàng hóa không được kiểm soát đồng bộ. Từ thực tiễn quản lý, ngành Thuế đã nhận diện 5 thủ đoạn phổ biến của các đơn vị kinh doanh TMĐT nhằm hợp thức hóa doanh thu, chi phí, hồ sơ xuất khẩu để trục lợi thuế, đặc biệt là hoàn thuế giá trị gia tăng.
Xóa bỏ tư duy "đối phó" trong quản trị thuế: Chìa khóa để doanh nghiệp nhỏ phát triển bền vững

Xóa bỏ tư duy "đối phó" trong quản trị thuế: Chìa khóa để doanh nghiệp nhỏ phát triển bền vững

Trong kỷ nguyên kinh tế số, việc chuyển đổi từ phương thức quản lý thuế thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu sống còn. Đối với cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), đây không chỉ là việc chuẩn hóa nội lực, minh bạch tài chính mà còn là cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Dòng tiền điện tử trở thành "mắt xích" quản lý thuế thương mại điện tử

Dòng tiền điện tử trở thành "mắt xích" quản lý thuế thương mại điện tử

Trong bối cảnh thương mại điện tử (TMĐT) tăng trưởng nhanh, bài toán hiện nay không còn chỉ là mở rộng quy mô, mà là làm sao cân bằng giữa phát triển thị trường với yêu cầu minh bạch dữ liệu, quản lý thuế và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh và các nền tảng số.
Giải quyết tranh chấp thuế quốc tế: Chìa khóa xây dựng môi trường đầu tư tin cậy

Giải quyết tranh chấp thuế quốc tế: Chìa khóa xây dựng môi trường đầu tư tin cậy

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy biến động, nhà đầu tư không chỉ tìm kiếm các ưu đãi về thuế hay chi phí nhân công rẻ, mà còn đặc biệt quan tâm đến sự minh bạch và công bằng trong việc giải quyết các tranh chấp thuế phát sinh. Việc cải cách quy trình giải quyết khiếu nại, tranh chấp thuế quốc tế hiện nay không chỉ là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ nguồn thu ngân sách mà còn là yếu tố sống còn để Việt Nam duy trì vị thế điểm đến đầu tư hấp dẫn và tin cậy.