Thứ ba 22/09/2026 14:05
Thời tiết: Hà Nội 33°C
Đà Nẵng 25°C
Cà Mau 25°C
Hải Phòng 33°C
TP Hồ Chí Minh 32°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách / Diễn đàn
aa

Dệt may Việt Nam và tác động từ chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ

Nụ Bùi
Trong danh mục hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu (XK) sang thị trường Hoa Kỳ, mặt hàng dệt may nằm trong nhóm những mặt hàng chủ lực. Tuy nhiên, tác động từ thuế đối ứng của Hoa Kỳ sẽ không chỉ làm tăng giá thành và giảm sức cạnh tranh của hàng hóa mà còn có khả năng khiến đơn hàng sụt giảm, ảnh hưởng trực tiếp đến kim ngạch XK và triển vọng tăng trưởng toàn ngành dệt may.

Khẳng định mặt hàng chủ lực

Kể từ khi Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) được ký kết ngày 13/7/2020, quan hệ thương mại hai nước đã đạt nhiều kết quả nổi bật. Năm 2024, Hoa Kỳ chiếm 29,5% tổng kim ngạch XK của Việt Nam, trong đó dệt may là nhóm hàng chủ lực. Theo báo cáo của Bộ Công Thương, ngành dệt may XK sang thị trường Hoa Kỳ chủ yếu gồm xơ, sợi dệt các loại; hàng dệt, may; vải mành, vải kỹ thuật khác và nguyên phụ liệu dệt may, da giày.

Giai đoạn 2020–2024, dù chịu nhiều biến động, ngành dệt may của Việt Nam vẫn thể hiện khả năng thích ứng và duy trì vai trò trụ cột trong XK. Cụ thể, theo thống kê từ Cục Hải quan Việt Nam, năm 2020, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19, kim ngạch XK dệt may vẫn đạt 14,28 tỷ USD, chiếm 18,52% tổng giá trị XK sang Hoa Kỳ.

DN được hưởng rất nhiều lợi ích khi được công nhận AEO. Trong ảnh: hoạt động sản xuất tại Công ty CP may Sông Hồng - một DN được Tổng cục Hải quan công nhận là DN AEO. 	Ảnh: H. Nụ
Hoạt động sản xuất tại Công ty CP may Sông Hồng. Ảnh: H. Nụ

Năm 2021, con số này tăng 16,42%, đạt 16,62 tỷ USD – mức tăng trưởng cao nhất giai đoạn. Năm 2022, XK đạt 18,01 tỷ USD, tăng 8,34%, cho thấy đà phục hồi vững chắc của ngành hàng này sau đại dịch. Năm 2023, ngành đối mặt khó khăn do lạm phát và nhu cầu sụt giảm tại Hoa Kỳ, khiến kim ngạch giảm 17,12% còn 14,93 tỷ USD.

Năm 2024, XK phục hồi đạt 16,70 tỷ USD, tăng 11,92% so với năm 2023. Về tổng thể, giai đoạn 2020–2024 là thời kỳ đầy thách thức nhưng ngành dệt may Việt Nam vẫn duy trì xu hướng tăng trưởng, khẳng định tiềm năng và vị thế của một ngành XK chủ lực trong quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ.

Diễn biến theo từng tháng cho thấy xu hướng biến động đáng chú ý. Trong quý I, khi chính sách thương mại và thuế quan của Hoa Kỳ chưa có thay đổi đáng kể, kim ngạch XK của Việt Nam tăng trưởng tích cực cả về quy mô và tốc độ so với cùng kỳ.

Đặc biệt, trong hai tháng 2 và 3, tốc độ tăng trưởng đạt trên 20%, với kim ngạch duy trì trên 1 tỷ USD mỗi tháng. Mặc dù tháng 2 ghi nhận mức giảm nhẹ do ảnh hưởng kỳ nghỉ lễ, hoạt động XK nhanh chóng phục hồi trong tháng 3, đạt mức tăng trưởng cao nhất năm (25,39%). Kết quả này cho thấy ngành dệt may Việt Nam đang duy trì được đà phục hồi vững chắc, tạo nền tảng thuận lợi cho tăng trưởng trong giai đoạn tiếp theo.

Giai đoạn đàm phán thuế quan kéo dài từ tháng 4 đến tháng 7 năm 2025 đã cho thấy những tác động rõ nét đến hoạt động XK hàng dệt may của Việt Nam. Nhìn chung, kim ngạch XK trong quý II vẫn duy trì xu hướng tăng, từ 1,42 tỷ USD lên 1,8 tỷ USD vào cuối quý, với tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước đạt mức cao 17,37–22,86%.

Bước sang năm 2025, những thay đổi trong chính sách thuế quan NK của Hoa Kỳ đã tác động đáng kể đến hoạt động XK hàng dệt may của Việt Nam. Theo số liệu của Cục Hải quan, tỷ trọng XK dệt may duy trì ổn định ở mức 11,7–13,23% và tiếp tục là nhóm hàng chủ lực trong cơ cấu XK sang thị trường này. Trong 8 tháng đầu năm 2025, kim ngạch XK dệt may đạt 12,51 tỷ USD, tăng so với mức 11,17 tỷ USD cùng kỳ năm 2024, khẳng định Hoa Kỳ vẫn là thị trường lớn nhất của dệt may Việt Nam.

Kết quả này phản ánh nỗ lực của các DN trong việc tận dụng cơ hội thị trường và đẩy mạnh XK trước khi chính sách thuế mới được áp dụng. Đáng chú ý, một số đơn hàng dự kiến giao trong tháng 7 đã được điều chỉnh để hoàn tất trong tháng 6 nhằm hưởng lợi từ giai đoạn hoãn thuế. Sang tháng 7/2025, mặc dù kim ngạch XK vẫn tăng nhẹ 80.909 nghìn USD so với tháng 6, tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ đã chậm lại đáng kể, chỉ đạt 6,55% với quy mô 1,88 tỷ USD. Điều này cho thấy tâm lý thận trọng của các DN trước những thay đổi về chính sách thuế quan sắp tới. Dù XK vẫn duy trì xu hướng tích cực, cả tốc độ tăng trưởng theo năm và theo tháng đều có dấu hiệu giảm dần, phản ánh sự chững lại trong đà mở rộng của ngành.

Giải pháp tức thời và dài hạn

Mặc dù chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ đã gây ra những tác động tiêu cực nhất định đối với hoạt động XK của Việt Nam, song Hoa Kỳ vẫn là thị trường XK lớn nhất và quan trọng nhất của Việt Nam. Trong 8 tháng đầu năm 2025, tổng kim ngạch XK sang Hoa Kỳ đạt khoảng 99,1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch XK cả nước. Cán cân thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ tiếp tục duy trì trạng thái xuất siêu với mức chênh lệch lớn, mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt và đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP.

Trong bối cảnh đó, nhiều chuyên gia cho rằng, việc xây dựng và triển khai các giải pháp thích ứng từ Chính phủ là yêu cầu cấp thiết nhằm giúp doanh nghiệp (DN) ổn định hoạt động, duy trì tăng trưởng và bảo đảm năng lực cạnh tranh trong dài hạn.

Trong đó, Chính phủ cần khẩn trương hoàn thiện hệ thống kiểm soát và truy xuất nguồn gốc nguyên liệu, sản phẩm dệt may, kết hợp với việc cấp chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) dựa trên nền tảng dữ liệu số và hệ thống quản lý minh bạch. Việc này vừa là cơ sở pháp lý giúp DN chứng minh nguồn gốc hợp pháp của sản phẩm, vừa là biện pháp phòng ngừa hữu hiệu nguy cơ bị áp thuế cao do nghi ngờ gian lận xuất xứ. Cùng với đó, cơ quan quản lý cần xử phạt nghiêm các hành vi gian lận thương mại, áp dụng biện pháp hành chính mạnh như phạt tiền hoặc tước giấy phép kinh doanh, qua đó nâng cao tính tuân thủ và uy tín của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

0957dsc6055-snapseed
DN ngành dệt may Việt Nam cũng cần chủ động thích ứng trước chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ.

Song song với việc siết chặt quản lý, chính sách hỗ trợ DN cũng cần được chú trọng để giúp DN dệt may vượt qua giai đoạn khó khăn. Trong trung hạn, cần phát triển các gói tín dụng ưu đãi và hỗ trợ đổi mới công nghệ, giúp DN đầu tư vào hệ thống quản lý chuỗi cung ứng, áp dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc (như RFID, blockchain) và cải thiện năng lực sản xuất đáp ứng tiêu chuẩn của các thị trường mới.

Đồng thời, Chính phủ có thể hỗ trợ đa dạng hóa thị trường XK, khuyến khích DN mở rộng sang các thị trường tiềm năng như EU, Nhật Bản, Hàn Quốc hoặc Trung Đông nhằm giảm phụ thuộc quá mức vào thị trường Hoa Kỳ. Ngoài ra, cần tăng cường các chính sách hỗ trợ phi tài chính như cung cấp thông tin thị trường, dự báo xu hướng tiêu dùng, tư vấn pháp lý thương mại quốc tế và đào tạo nhân lực chuyên sâu về quản trị chuỗi cung ứng và thương mại quốc tế.

Về dài hạn, Chính phủ cần đẩy mạnh đàm phán song phương và đa phương với Hoa Kỳ cũng như các đối tác lớn khác nhằm xây dựng khuôn khổ hợp tác thương mại bền vững, tiến tới ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) hoặc Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện (CEPA), tạo điều kiện để hàng hóa Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan, củng cố vị thế quốc gia trên thị trường quốc tế.

Bên cạnh định hướng XK, khuyến khích tiêu dùng nội địa cũng là một giải pháp chiến lược giúp giảm thiểu rủi ro phụ thuộc vào thị trường nước ngoài.

Mặc dù vậy phía DN ngành dệt may Việt Nam cũng cần chủ động thích ứng trước chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ là yếu tố then chốt để giảm thiểu rủi ro và duy trì năng lực cạnh tranh. Trước hết, các DN cần chủ động chứng minh xuất xứ hàng hóa thông qua việc hoàn thiện và lưu trữ đầy đủ các chứng từ C/O. Đồng thời triển khai hệ thống truy xuất chuỗi cung ứng nhằm theo dõi nguồn gốc nguyên liệu từ khâu NK đến thành phẩm.

Việc đầu tư vào công nghệ chuyển đổi số trong quản lý dữ liệu xuất xứ và sản xuất – chẳng hạn như mã QR, RFID, hay nền tảng quản lý ERP – sẽ giúp tăng tính minh bạch và đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt của thị trường Hoa Kỳ. Song song với đó, DN cần đẩy mạnh sử dụng nguyên liệu trong nước để giảm rủi ro về xuất xứ, đồng thời học hỏi kinh nghiệm từ các ngành khác như ngành pin năng lượng mặt trời trong việc đối phó với các biện pháp phòng vệ thương mại và điều tra chống chuyển tải.

Bên cạnh việc kiểm soát nguồn gốc, DN dệt may cũng cần nâng cấp công nghệ sản xuất nhằm tăng năng suất, cải thiện chất lượng và hướng tới sản xuất xanh, sạch, tiết kiệm năng lượng. Điều này không chỉ đáp ứng yêu cầu của Hoa Kỳ mà còn mở rộng cơ hội XK sang các thị trường khắt khe như Liên minh châu Âu.

Cùng với đó, DN cần đa dạng hóa nguồn cung ứng, tìm kiếm nhà cung cấp mới, thay đổi cơ cấu NK nguyên liệu, cũng như tận dụng các Hiệp định thương mại tự do như EVFTA, CPTPP, UKVFTA để được hưởng ưu đãi thuế quan, sẽ giúp DN gia tăng tính linh hoạt trong chuỗi cung ứng và giảm thiểu tác động tiêu cực từ chính sách thuế đối ứng. Ngoài định hướng XK, DN dệt may Việt Nam cần chú trọng khai thác tiềm năng thị trường nội địa như một trụ cột ổn định.

Trước khi chính sách thuế đối ứng được ban hành, hàng dệt may Việt Nam XK vào Hoa Kỳ được áp dụng mức thuế tối huệ quốc (MFN) với thuế suất trung bình chỉ 7-8%. Tuy nhiên, phần lớn DN dệt may Việt Nam hiện nay là DN vừa và nhỏ, trong đó hơn 70% hoạt động theo phương thức gia công cắt - may - hoàn thiện (CMT), vốn tạo ra giá trị gia tăng thấp và phụ thuộc nhiều vào đơn hàng từ đối tác. Trong bối cảnh chính sách thuế mới của Hoa Kỳ, nếu hàng hóa XK chịu thuế đối ứng 20% nhưng không chứng minh được nguồn gốc nguyên liệu, mức thuế có thể tăng lên tới 46%. Điều này sẽ tạo ra áp lực lớn đối với nhóm DN CMT vốn có biên lợi nhuận thấp và mức độ phụ thuộc cao vào nguyên liệu nhập khẩu (NK).

Số liệu cũng thể hiện rõ, kể từ ngày 7/8/2025, khi mức thuế suất NK 20% được Hoa Kỳ chính thức áp dụng, quy mô XK dệt may sang thị trường này đã bắt đầu sụt giảm. Trong tháng 8/2025, kim ngạch XK đạt 1,84 tỷ USD, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm trước và giảm 2,35% so với tháng 7. Đây là tháng đầu tiên trong năm ghi nhận tốc độ tăng trưởng âm, cho thấy tác động tiêu cực ban đầu của chính sách thuế quan mới đối với ngành dệt may Việt Nam.

TỪ KHOÁ:

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Dự thảo Luật An toàn thực phẩm: Lấp khoảng trống hậu kiểm, ngăn thực phẩm giả

Dự thảo Luật An toàn thực phẩm: Lấp khoảng trống hậu kiểm, ngăn thực phẩm giả

Sữa giả, thực phẩm giả, thực phẩm kém chất lượng liên tiếp bị phát hiện đang cho thấy những lỗ hổng không chỉ ở khâu cấp phép mà còn trong quá trình giám sát sau lưu thông. ThS. Luật sư Bùi Văn Đức, Phó Giám đốc Công ty Luật TNHH Chân Thiện Mỹ thuộc Đoàn luật sư TP. Hồ Chí Minh cho rằng, hậu kiểm chưa đủ mạnh, dữ liệu quản lý thiếu liên thông và trách nhiệm còn phân tán đang tạo khoảng trống, đất sống cho thực phẩm giả, kém chất lượng. Theo ông, sửa đổi Luật An toàn thực phẩm cần chuyển mạnh sang kiểm soát xuyên suốt vòng đời sản phẩm, đồng thời làm rõ trách nhiệm và tăng năng lực quản lý trên môi trường số.
Miễn, giảm phí, lệ phí để người dân tiến sâu hơn vào đời sống số

Miễn, giảm phí, lệ phí để người dân tiến sâu hơn vào đời sống số

Từ ngày 15/8/2026 đến hết ngày 28/2/2027, công dân có tài khoản định danh điện tử mức độ 2 được miễn, giảm 10 khoản phí, lệ phí nếu đáp ứng đủ điều kiện. Chia sẻ với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính, Luật sư Phạm Tuấn Anh (Đoàn luật sư TP. Hà Nội), Chuyên gia Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số cho rằng, không chỉ giúp người dân giảm chi phí khi thực hiện thủ tục, chính sách này còn mở thêm lợi ích cho doanh nghiệp nhỏ, hộ và cá nhân kinh doanh khi dữ liệu số ngày càng gắn chặt với giao dịch, quản lý và thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước.
Thêm dư địa giảm thủ tục, chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp nhập khẩu hóa chất

Thêm dư địa giảm thủ tục, chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp nhập khẩu hóa chất

Dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 25/2026/NĐ-CP đang mở thêm dư địa để doanh nghiệp nhập khẩu hóa chất giảm thủ tục, chi phí tuân thủ và đẩy mạnh số hóa quản lý. Tuy nhiên, theo TS. Đào Cao Sơn, Phó Trưởng bộ môn Quản trị thương hiệu và Sở hữu trí tuệ, Khoa Marketing, Trường Đại học Thương mại, thông quan chỉ là một khâu trong cả quá trình, doanh nghiệp cần chủ động hơn từ khai báo, lưu trữ, vận chuyển đến bảo quản và sử dụng hóa chất.
Ngăn chặn gian lận hóa đơn bằng AI: Đề xuất ứng dụng mô hình quản lý đa tầng

Ngăn chặn gian lận hóa đơn bằng AI: Đề xuất ứng dụng mô hình quản lý đa tầng

Trong bối cảnh nền kinh tế số phát triển vượt bậc, việc ứng dụng công nghệ đa tầng để quản lý thuế là xu hướng không thể đảo ngược của thế giới. Là quốc gia tiếp cận sau, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để tận dụng ngay những công nghệ dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.
Tháo "nút thắt" cho doanh nghiệp nhập khẩu hàng tân trang

Tháo "nút thắt" cho doanh nghiệp nhập khẩu hàng tân trang

Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 77/2023/NĐ-CP và Nghị định số 66/2024/NĐ-CP về quản lý nhập khẩu hàng hóa tân trang theo Hiệp định CPTPP, EVFTA, UKFTA (gọi tắt dự thảo) đang mở hướng quản lý mới cho hàng hóa tân trang nhập khẩu. Tuy nhiên, để biến cơ hội thành lợi thế, Luật sư Nguyễn Văn Chí (Công ty Luật TNHH Chân Thiện Mỹ, Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh) cho rằng doanh nghiệp cần chuẩn bị kỹ năng lực kiểm soát hàng hóa và tuân thủ quy định.
Đề xuất nâng ngưỡng doanh thu kê khai lên 10 tỷ đồng: Phù hợp với quy mô và năng lực thực tế của hộ kinh doanh

Đề xuất nâng ngưỡng doanh thu kê khai lên 10 tỷ đồng: Phù hợp với quy mô và năng lực thực tế của hộ kinh doanh

Việc Bộ Tài chính nghiên cứu nâng mức doanh thu để hộ, cá nhân kinh doanh được lựa chọn áp dụng phương pháp thuế đơn giản từ 3 tỷ đồng lên 10 tỷ đồng/năm được kỳ vọng tạo thêm vùng chuyển tiếp khi hộ kinh doanh mở rộng quy mô. Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, điều quan trọng là hạn chế những “bước nhảy” quá lớn về nghĩa vụ và chi phí tuân thủ.
Số hóa thủ tục thuế: Giảm chi phí tuân thủ, gia tăng cạnh tranh cho hàng Việt

Số hóa thủ tục thuế: Giảm chi phí tuân thủ, gia tăng cạnh tranh cho hàng Việt

Số hóa thủ tục thuế đang từng bước thay đổi cách doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, theo hướng nhanh hơn, minh bạch hơn và giảm chi phí tuân thủ. Với doanh nghiệp xuất khẩu, mỗi khâu được đơn giản hóa, mỗi giờ chờ được rút ngắn không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn tạo thêm dư địa để đầu tư, mở rộng thị trường và nâng sức cạnh tranh cho hàng Việt. ThS. Nguyễn Ngọc Minh An, Khoa Kinh tế, Trường Đại học Mở Hà Nội cho rằng, cải cách thủ tục thuế không chỉ là câu chuyện hành chính, mà phải trở thành một bộ phận của năng lực cạnh tranh quốc gia.
Nâng ngưỡng doanh thu tính thuế lên 10 tỷ đồng: Bước đi chiến lược tháo gỡ rào cản cho hộ kinh doanh

Nâng ngưỡng doanh thu tính thuế lên 10 tỷ đồng: Bước đi chiến lược tháo gỡ rào cản cho hộ kinh doanh

Chính phủ đang nghiên cứu nâng ngưỡng doanh thu tính thuế từ 3 tỷ đồng lên 10 tỷ đồng/năm. Các chuyên gia về thuế cho rằng, khi chính sách này được thông qua sẽ tạo “khoảng đệm” cần thiết, giúp các hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ giảm chi phí tuân thủ, mở rộng quy mô, hướng tới sự minh bạch và chuyên nghiệp.
Hướng dẫn xử lý hóa đơn điện tử có sai sót theo các quy định mới

Hướng dẫn xử lý hóa đơn điện tử có sai sót theo các quy định mới

Hóa đơn điện tử hiện nay đã trở thành một phần quen thuộc trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng vẫn có thể phát sinh sai sót tên, địa chỉ, mã số thuế, sai đơn giá, thuế suất, tiền thuế... Vậy khi phát hiện hóa đơn sai sót thì phải xử lý thế nào?
Hoàn thuế giá trị gia tăng: Dữ liệu mở đường, doanh nghiệp hưởng lợi

Hoàn thuế giá trị gia tăng: Dữ liệu mở đường, doanh nghiệp hưởng lợi

Rút ngắn thời gian hoàn thuế nhưng vẫn kiểm soát chặt gian lận đang là trọng tâm hướng đến của ngành Thuế. Việc đẩy mạnh dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa giúp chuyển từ kiểm soát dàn trải sang quản lý theo rủi ro, qua đó hoàn nhanh hơn cho doanh nghiệp đủ điều kiện và khơi thông dòng tiền. Xung quanh vấn đề này, phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính đã trao đổi với chuyên gia, TS Giang Thị Trang, Khoa Kế toán, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh.
Đề xuất giảm 30% thuế: Chính sách hỗ trợ đang sát với thực tế vận hành của thị trường

Đề xuất giảm 30% thuế: Chính sách hỗ trợ đang sát với thực tế vận hành của thị trường

Trong bối cảnh doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ và cá nhân kinh doanh chịu nhiều sức ép từ chi phí, vốn và thị trường, đề xuất giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp trong hai năm 2026-2027 của Chính phủ được kỳ vọng tạo thêm nguồn lực cho khu vực kinh doanh quy mô nhỏ. Theo bà Phạm Thị Xuân, Viện trưởng Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số, giá trị của chính sách này không chỉ nằm ở số thuế được giảm, mà còn ở khả năng giải phóng dòng tiền để doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh duy trì sản xuất, đầu tư, mở rộng thị trường và nâng cao sức cạnh tranh.
Chủ động kiểm soát hóa đơn, hạn chế rủi ro trong thực hiện nghĩa vụ thuế

Chủ động kiểm soát hóa đơn, hạn chế rủi ro trong thực hiện nghĩa vụ thuế

Theo chuyên gia Bùi Như Hiển, Phó trưởng Bộ môn Kinh doanh (Khoa Kinh doanh và Logistics, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh), người nộp thuế cần chủ động cập nhật chính sách, kiểm soát chặt chẽ từng khâu, bảo đảm hóa đơn được lập, sử dụng đúng quy định ngay từ đầu.
Giảm trừ y tế, giáo dục khi tính thuế thu nhập cá nhân: Căn cứ vào chi phí thực tế

Giảm trừ y tế, giáo dục khi tính thuế thu nhập cá nhân: Căn cứ vào chi phí thực tế

Chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN) mới bổ sung khoản giảm trừ đối với chi phí y tế, giáo dục - đào tạo tối đa 47 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, chuyên gia thuế Nguyễn Văn Phụng lưu ý, khoản giảm trừ thực tế được xác định trên cơ sở số tiền người nộp thuế thực tế chi trả và đáp ứng các điều kiện về chứng từ, nguồn thanh toán.
Chính sách tài khóa tiếp sức doanh nghiệp, tạo động lực cho tăng trưởng

Chính sách tài khóa tiếp sức doanh nghiệp, tạo động lực cho tăng trưởng

Theo TS. Phan Hoài Nam, Tổng giám đốc Hãng tư vấn W&A, Trọng tài viên VIAC, trong bối cảnh nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số, chính sách tài khóa không chỉ đáp ứng yêu cầu quản lý ngân sách mà còn cần tạo thuận lợi cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Giảm chi phí tuân thủ, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục và giải phóng dòng tiền là những yếu tố có thể tạo tác động trực tiếp tới quyết định của doanh nghiệp.
Bao bì không đạt chuẩn, hàng Việt Nam khó vào EU

Bao bì không đạt chuẩn, hàng Việt Nam khó vào EU

Quy định mới của Liên minh châu Âu (EU) về bao bì và rác thải bao bì có hiệu lực từ ngày 12/8/2026, đặt ra yêu cầu ngày càng cao về tái chế, tái sử dụng, vật liệu tái chế và kiểm soát hóa chất. Chuyên gia Nguyễn Ngọc Linh, Giám đốc Thương hiệu Easy Export, Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số cảnh báo, doanh nghiệp xuất khẩu không nên xem nhẹ, chỉ coi bao bì là phần phụ của sản phẩm, bởi đây là mắt xích quyết định khả năng tiếp cận thị trường EU.