![]() |
| Chi phí y tế, giáo dục được giảm trừ là công cụ hữu hiệu chia sẻ rủi ro tài chính với hộ gia đình. Ảnh: Minh họa (AI). |
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các cơ chế giảm trừ này thường được xây dựng theo hướng có mục tiêu rõ ràng, gắn với mức chi tiêu thực tế. Tuy nhiên, cách thức triển khai và mức độ hỗ trợ lại rất khác nhau giữa các quốc gia. Bên cạnh đó, mức giảm trừ chung cho người nộp thuế cũng có sự khác biệt đáng kể, thậm chí có nước không quy định giảm trừ cho người phụ thuộc mà lồng ghép vào các khoản giảm trừ cụ thể như y tế hoặc giáo dục.
Tại Trung Quốc, pháp luật thuế TNCN quy định mức giảm trừ cơ bản cho người nộp thuế là 60.000 RMB/năm, tương đương khoảng 0,6 lần GDP bình quân đầu người năm 2025. Quốc gia này không áp dụng giảm trừ chung cho người phụ thuộc, nhưng cho phép giảm trừ chi phí y tế nếu tổng chi trong năm vượt quá 15.000 RMB, với mức trần tối đa là 80.000 RMB cho toàn bộ gia đình (bao gồm người nộp thuế, vợ/chồng, con và cha mẹ).
Đối với giáo dục, Trung Quốc áp dụng mức giảm trừ 2.000 RMB/tháng cho con đang học phổ thông (tương đương 24.000 RMB/năm), tương ứng với tỷ lệ khoảng 24% trên GDP bình quân đầu người của Trung Quốc. Với giáo dục đại học và đào tạo nghề, mức giảm trừ là 400 RMB/tháng và tối đa trong 48 tháng. Chính sách này thể hiện sự tập trung vào hỗ trợ trực tiếp chi phí học tập, thay vì giảm trừ theo đầu người phụ thuộc. Tuy nhiên, khác Việt Nam là Trung Quốc không quy định mức giảm trừ chung cho người phụ thuộc.
Trong khi đó, tại Thái Lan, người nộp thuế được giảm trừ tối đa 90.000 Baht/năm, bằng 0,33 lần GDP bình quân đầu người năm 2025 của Thái Lan. Ngoài ra, mỗi người con dưới 25 tuổi được giảm trừ 15.000 Baht/năm, tối đa không quá 3 con. Đáng chú ý, quốc gia này còn bổ sung mức giảm trừ 2.000 Baht/năm (khoảng 64 USD) cho mỗi con đang theo học tại các cơ sở giáo dục trong nước.
Khác với Trung Quốc, Thái Lan không có khoản giảm trừ riêng cho chi phí y tế, nhưng cho phép khấu trừ chi phí mua bảo hiểm sức khỏe với mức tối đa 25.000 Baht/năm, và bảo hiểm cho cha mẹ tối đa 15.000 Baht/năm. Điều này cho thấy cách tiếp cận gián tiếp trong việc hỗ trợ chi tiêu y tế.
Tại Malaysia, hệ thống giảm trừ thuế TNCN được thiết kế khá toàn diện. Người nộp thuế được giảm trừ cơ bản 9.000 RM/năm (bằng 1,5 lần GDP bình quan đầu người năm 2025 của Malaysia). Đối với con dưới 18 tuổi hoặc trên 18 tuổi nhưng đang đi học được giảm trừ là 2.000 RM/năm (hoặc 8.000 RM nếu đang học đại học).
Đặc biệt, Malaysia có nhiều chính sách hỗ trợ cụ thể cho y tế và giáo dục. Chi phí giáo dục của người nộp thuế được giảm trừ tối đa 7.000 RM/năm. Đối với chi phí y tế liên quan đến bệnh hiểm nghèo, mức giảm trừ cho người nộp thuế, vợ/chồng và con người nộp thuế lên tới 10.000 RM/năm (bằng 0,17 lần GDP bình quân đầu người năm 2025 của Malaysia) và 8.000 RM/năm cho cha mẹ.
Ngoài ra, quốc gia này còn hỗ trợ các gia đình có con nhỏ thông qua mức giảm trừ 6.000 RM/năm cho chi phí giáo dục mầm non đối với trẻ dưới 6 tuổi. Chính sách này phản ánh định hướng đầu tư vào giáo dục từ sớm và hỗ trợ thiết thực cho các hộ gia đình trẻ.
Đối với các khoản giảm trừ giáo dục cho người nộp thuế tại các cơ sở đào tạo tại Malaysia, thì nguời nộp thuế được áp dụng mức giảm trừ 7.000 RM/năm. Ngoài ra, người nộp thuế có con dưới 6 tuổi sẽ được áp dụng thêm mức giảm trừ giáo dục cho con học mẫu giáo với mức 6.000 RM (bằng 0,1 lần GDP bình quân đầu người năm 2025 của Malaysia).
Nhìn chung, kinh nghiệm từ các quốc gia cho thấy chính sách giảm trừ thuế TNCN ngày càng được thiết kế linh hoạt và có mục tiêu rõ ràng hơn. Thay vì chỉ áp dụng mức giảm trừ chung, nhiều nước đã chuyển sang hỗ trợ trực tiếp các khoản chi tiêu thiết yếu như y tế và giáo dục. Đây là xu hướng đáng tham khảo trong quá trình hoàn thiện chính sách thuế, nhằm vừa đảm bảo công bằng, vừa thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực và an sinh xã hội bền vững.
| Tại Việt Nam, Luật thuế TNCN số 109/2025/QH15 quy định mức giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/người/tháng và giảm trừ cho người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/người/tháng. Mức này tương đương khoảng 2,07 lần GDP bình quân đầu người. Quy định về giảm trừ trước khi tính thuế đã đảm bảo nguyên tắc cá nhận cần phải có một mức thu nhập nhất định nhằm đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của cuộc sống như: ăn, ở, đi lại, học tập, khám chữa bệnh... Trong tính toán các thành tố cấu thành mức giảm trừ này đã có tính đến yếu tố chi cho y tế, giáo dục - đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc người nộp thuế. Quy định cho phép giảm trừ về chi phí y tế và giáo dục - đào tạo tại khoản 2 Điều 11 Luật thuế TNCN số 109/2025/QH15 là khoản giảm trừ bổ sung ngoài phần giảm trừ đã được thiết kế trong mức giảm trừ chung cho người nộp thuế và người phụ thuộc người nộp thuế, thể hiện sự chia sẻ của nhà nước với người nộp thuế. Việc thực hiện quy định này là nhằm hỗ trợ thêm một phần chi phí mà người nộp thuế có thể áp dụng ngoài mức giảm trừ gia cảnh và giảm trừ cho người phụ thuộc, đồng thời cũng thể hiện nguyên tắc “công bằng” và “khả năng nộp thuế”, có tính đến đặc thù, hoàn cảnh của người nộp thuế. |