![]() |
| Doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam hướng tới 55 tỷ USD doanh thu xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ công nghệ số vào năm 2030. |
Phóng viên: Thưa ông, Đề án hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 vừa được Phó Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 982/QĐ-TTg ngày 4/6/2026 có những nội dung trọng tâm và điểm mới đáng chú ý nào?
|
Ông Nguyễn Văn Thi: Đề án đã đặt ra mục tiêu cụ thể cho hành trình đưa doanh nghiệp công nghệ số ra thị trường quốc tế. Trong đó, đến năm 2030 có tối thiểu 5.000 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có doanh thu từ thị trường quốc tế và doanh thu xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ công nghệ số đạt tối thiểu 55 tỷ USD mỗi năm là một dấu mốc rất đáng chú ý.
Điều này cho thấy, định hướng không chỉ dừng ở việc gia tăng số lượng doanh nghiệp tham gia xuất khẩu, mà còn hướng đến việc nâng cao chất lượng tăng trưởng, khả năng cạnh tranh và giá trị tạo ra từ các sản phẩm công nghệ số mang thương hiệu Việt Nam.
Đề án cũng xác định rõ mục tiêu phát triển đội ngũ doanh nghiệp công nghệ số có năng lực cạnh tranh cao, làm chủ công nghệ lõi và công nghệ chiến lược, đủ khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đây là nền tảng quan trọng để công nghệ số trở thành một trong những động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế trong những năm tới.
Phóng viên: Mục tiêu doanh thu xuất khẩu tối thiểu 55 tỷ USD mỗi năm đến năm 2030 mang ý nghĩa như thế nào đối với ngành công nghệ số Việt Nam, thưa ông?
Ông Nguyễn Văn Thi: Con số 55 tỷ USD không đơn thuần là một chỉ tiêu về doanh thu. Nó phản ánh kỳ vọng về khả năng hiện diện ngày càng sâu rộng của doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Đáng chú ý, Đề án không chỉ đặt mục tiêu về tổng doanh thu xuất khẩu mà còn đưa ra các chỉ số cụ thể khác. Chẳng hạn, phấn đấu có 60 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đạt doanh thu từ thị trường nước ngoài từ 20 triệu USD mỗi năm trở lên; có 5 doanh nghiệp đạt doanh thu từ thị trường nước ngoài tối thiểu 1 tỷ USD mỗi năm.
Những mục tiêu này cho thấy mong muốn hình thành các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn, có khả năng cạnh tranh ở tầm khu vực và quốc tế. Đồng thời, tốc độ tăng trưởng bình quân doanh thu xuất khẩu được đặt ở mức tối thiểu 30% mỗi năm cũng thể hiện kỳ vọng rất rõ về sự phát triển của ngành công nghệ số trong giai đoạn tới.
Xa hơn, tầm nhìn đến năm 2045 là Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp công nghệ số phát triển, là một trong những trung tâm công nghiệp công nghệ số hàng đầu khu vực và trên thế giới. Đây là một định hướng dài hạn, gắn với việc nâng cao vị thế của thương hiệu Make in Viet Nam trên thị trường quốc tế.
Phóng viên: Theo ông, những nhiệm vụ và giải pháp nào sẽ đóng vai trò quyết định trong việc hiện thực hóa mục tiêu đưa doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam vươn ra thị trường toàn cầu?
Ông Nguyễn Văn Thi: Có thể thấy Đề án dành sự quan tâm rất lớn cho hoạt động nghiên cứu, phát triển và đổi mới công nghệ. Một trong những định hướng quan trọng là ưu tiên nguồn lực đầu tư cho các chương trình, dự án nghiên cứu phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số Make in Viet Nam có tiềm năng xuất khẩu dựa trên các công nghệ chiến lược và công nghệ lõi. Mục tiêu là hướng tới nắm bắt và từng bước làm chủ công nghệ.
Bên cạnh đó là việc hỗ trợ huy động nguồn lực từ các quỹ đầu tư trong và ngoài nước, cũng như Quỹ Đầu tư Phát triển công nghiệp chiến lược để đầu tư cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm hướng tới thị trường quốc tế.
Một điểm rất đáng chú ý là thúc đẩy mô hình hợp tác “3 nhà” gồm: nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ. Đây được xem là nền tảng để hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế cho doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam.
Đề án cũng đề cập đến việc hỗ trợ nghiên cứu, thử nghiệm, bản địa hóa và tiêu chuẩn hóa sản phẩm, dịch vụ công nghệ số nhằm đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, pháp lý, ngôn ngữ và văn hóa của từng thị trường. Đây là những yếu tố rất quan trọng khi doanh nghiệp muốn mở rộng hoạt động ra nước ngoài.
Phóng viên: Ngoài năng lực công nghệ, Việt Nam sẽ làm gì để xây dựng và khẳng định thương hiệu Make in Viet Nam như một biểu tượng về chất lượng, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh toàn cầu, thưa ông?
Ông Nguyễn Văn Thi: Đây là nội dung được dành riêng thành một nhóm nhiệm vụ lớn trong Đề án. Theo đó, sẽ xây dựng Bộ nhận diện thương hiệu và Cẩm nang truyền thông đa ngôn ngữ về ngành công nghiệp công nghệ số Việt Nam nhằm định vị và quảng bá hình ảnh doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Điều đáng chú ý là hoạt động truyền thông không chỉ dừng ở việc giới thiệu sản phẩm. Đề án hướng tới việc chủ động xây dựng các nội dung chuyên sâu, giới thiệu thành tựu, doanh nghiệp tiêu biểu, sản phẩm và dịch vụ công nghệ số Việt Nam trên các kênh báo chí, truyền thông và diễn đàn quốc tế uy tín.
Song song với đó là các chiến dịch truyền thông số trên những nền tảng thông tin toàn cầu với nội dung được bản địa hóa phù hợp từng thị trường mục tiêu.
Một giải pháp khác là hình thành Gian hàng số quốc gia Việt Nam trên các nền tảng thương mại điện tử quốc tế uy tín. Đây có thể xem là một kênh quảng bá tập trung, giúp doanh nghiệp tiếp cận khách hàng quốc tế thuận lợi hơn.
Ngoài ra, Đề án cũng đặt ra việc tổ chức Diễn đàn Doanh nghiệp Công nghệ số Việt Nam tại các thị trường chiến lược nhằm giới thiệu, xúc tiến thương mại và tạo cơ hội hợp tác kinh doanh cho các sản phẩm, dịch vụ và giải pháp công nghệ số Việt Nam.
Phóng viên: Thưa ông, Đề án được kỳ vọng sẽ tạo ra những động lực mới cho cộng đồng doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam. Vậy nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ được hỗ trợ ra sao để tận dụng cơ hội và tự tin vươn ra toàn cầu?
Ông Nguyễn Văn Thi: Đây là một nội dung rất đáng quan tâm bởi phần lớn doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam hiện nay vẫn thuộc nhóm vừa và nhỏ.
Đề án xác định sẽ hình thành các doanh nghiệp công nghệ số chủ lực để dẫn dắt hệ sinh thái. Cụ thể, lựa chọn tối thiểu 5 doanh nghiệp công nghệ số chủ lực của Việt Nam trong những ngành công nghiệp số chiến lược có lợi thế cạnh tranh và tiềm năng xuất khẩu.
Các doanh nghiệp này sẽ đóng vai trò hạt nhân trong việc xây dựng chuỗi liên kết, liên minh kinh tế số theo ngành, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận thị trường quốc tế, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như yêu cầu pháp lý tại thị trường mục tiêu.
Bên cạnh đó là nghiên cứu các cơ chế ưu đãi thuế, hỗ trợ vốn nhằm khuyến khích doanh nghiệp chủ lực hợp tác, đặt hàng và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chuỗi cung ứng.
Đề án cũng đề cập đến việc nghiên cứu chính sách phiếu hỗ trợ tài chính để giúp doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận và sử dụng sản phẩm, dịch vụ công nghệ số của các doanh nghiệp chủ lực.
Tôi cho rằng, điều quan trọng ở đây là tạo ra một hệ sinh thái cùng phát triển. Khi doanh nghiệp lớn mở rộng hiện diện quốc tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, tích lũy kinh nghiệm và từng bước xây dựng năng lực cạnh tranh của riêng mình. Đó cũng là cách để mục tiêu 55 tỷ USD doanh thu xuất khẩu đến năm 2030 được lan tỏa tới toàn bộ cộng đồng doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!
| Đề án hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng phê duyệt tại Quyết định số 982/QĐ-TTg ngày 4/6/2026. Trong đó, đặt mục tiêu, đến năm 2030 có tối thiểu 5.000 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có doanh thu từ thị trường quốc tế và doanh thu xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ công nghệ số đạt tối thiểu 55 tỷ USD mỗi năm. |