![]() |
| Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, tăng trưởng kinh tế 9 tháng năm 2026 đạt 9,01%, khi lạm phát ở mức 4,52% là kết quả rất đáng ghi nhận trong bối cảnh nhiều thách thức. Ảnh: VPQH |
Tăng trưởng đi cùng kiểm soát lạm phát để người dân thụ hưởng thành quả
Phát biểu làm rõ các nội dung đại biểu Quốc hội quan tâm tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước và đầu tư công sáng ngày 31/10, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đánh giá, ý kiến phát biểu của các vị đại biểu Quốc hội đã thể hiện sự khách quan, công tâm, ghi nhận kết quả đạt được, đồng thời thẳng thắn chỉ ra tồn tại, hạn chế và phân tích nguyên nhân.
Đặc biệt, nhiều đại biểu đã đóng góp những nhiệm vụ, giải pháp sát thực tiễn, có tính khả thi, góp phần hoàn thiện 11 nhóm nhiệm vụ, giải pháp thực hiện kế hoạch năm 2027, hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số và kiểm soát lạm phát khoảng 4,5%.
Bộ trưởng khẳng định, sẽ nghiêm túc tiếp thu đầy đủ ý kiến đại biểu để báo cáo Thủ tướng Chính phủ, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội xem xét, thông qua nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2027.
Trước nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội quan tâm về tăng trưởng và kiểm soát lạm phát, Bộ trưởng cho biết, tăng trưởng kinh tế 9 tháng năm 2026 đạt 9,01%, trong khi lạm phát ở mức 4,52%. Đây là kết quả rất đáng ghi nhận trong bối cảnh kinh tế thế giới chịu nhiều tác động bất lợi, được dư luận quốc tế cũng như trong nước và các đại biểu Quốc hội đánh giá cao.
Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ quốc tế, tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2026 ở mức khoảng 3,1%, trong khi lạm phát thế giới khoảng 4,7%. Xung đột địa chính trị đã tác động mạnh đến giá dầu, nguồn cung và hoạt động của các cơ sở lọc hóa dầu. Giá dầu Brent bình quân năm 2026 dự kiến khoảng 79 USD/thùng, nhưng hiện nay đã dao động quanh khoảng 118-120 USD/thùng, tăng trên 50%.
Trong bối cảnh đó, Bộ trưởng nhấn mạnh: “Việc xung đột địa chính trị, tác động đến giá dầu, đứt gãy nguồn cung, ảnh hưởng cả những cơ sở lọc hóa dầu... tác động rất lớn. Và chúng ta kiểm soát được mức lạm phát khoảng 4,52%, thực sự là một kết quả rất đáng ghi nhận”.
Bộ trưởng cũng dẫn số liệu so sánh chỉ số giá cả trên trang Livingcost.org cho thấy, mức tăng giá tại một số nền kinh tế cao hơn Việt Nam. Cụ thể, chỉ số giá tại Mỹ cao gấp 3,1 lần, EU khoảng 2,5 lần, Lào 1,3 lần, Thái Lan 1,5 lần, Malaysia 1,24 lần và Singapore 3,13 lần so với Việt Nam.
Theo Bộ trưởng, kết quả kiểm soát lạm phát có sự đóng góp của chính sách tiền tệ điều hành linh hoạt, chặt chẽ, bảo đảm ổn định tỷ giá, lãi suất, cùng với các chính sách tài khóa hỗ trợ nền kinh tế.
Trong năm 2026, các chính sách miễn, giảm thuế khoảng 240.000 tỷ đồng và gia hạn thuế khoảng 120.000 tỷ đồng, tổng cộng khoảng 360.000 tỷ đồng, đã góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.
Thời gian tới, Bộ Tài chính sẽ báo cáo phương án giá điện và tiếp tục đề xuất lùi thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, đưa toàn bộ thuế đối với xăng dầu về 0% với mức giảm khoảng 4.000 tỷ đồng cho chính sách này.
Nhấn mạnh quan điểm điều hành, Bộ trưởng nêu rõ: “Tăng trưởng nhưng mà người dân phải thụ hưởng thành quả”. Theo đó, mục tiêu đặt ra là vừa kiểm soát lạm phát quanh 4,5%, vừa phấn đấu tăng trưởng trên 10%.
Phát triển thị trường chứng khoán, đa dạng hoá kênh huy động vốn
Về huy động nguồn lực, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, theo kế hoạch tài chính 5 năm 2026-2030, để đạt mục tiêu tăng trưởng trên 10%, tổng đầu tư toàn xã hội cần đạt khoảng 40% GDP, đồng thời hệ số ICOR phải giảm về mức 4,5-4,8.
“Như vậy, mức huy động nguồn lực cho tăng trưởng trong giai đoạn này tăng 2,21 lần so với giai đoạn 2021-2025”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Trước băn khoăn của đại biểu Quốc hội về sự phụ thuộc lớn vào thị trường tín dụng, Bộ trưởng cho hay, Chính phủ đã nhận diện vấn đề từ sớm, từ xa và triển khai Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán nhằm đa dạng hóa các kênh huy động vốn.
Trong 9 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên thị trường chứng khoán tăng 15% so với cùng kỳ. Đặc biệt, phát hành cổ phiếu ra công chúng tăng 60%; phát hành cổ phiếu riêng lẻ tăng 80%.
Từ cuối năm 2025 đến nay, có 10 doanh nghiệp thực hiện IPO, huy động trên 60.000 tỷ đồng, gấp 9 lần tổng giá trị huy động trong cả giai đoạn 2021-2024.
![]() |
| Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đặt mục tiêu đến năm 2030, vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 120% GDP. Ảnh: VPQH |
Bộ trưởng cho biết, chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đặt mục tiêu đến năm 2030, vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 120% GDP, hiện ở mức khoảng 90% GDP; quy mô thị trường trái phiếu đạt khoảng 58% GDP; thị trường sản phẩm phái sinh đạt khoảng 20-30% GDP.
Để đạt mục tiêu này, Bộ trưởng nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm công khai, minh bạch để thu hút nhà đầu tư; đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, tránh tình trạng “cô đặc”; đồng thời thu hút nhà đầu tư nước ngoài và phát triển các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, tạo thêm kênh đầu tư an toàn cho nhà đầu tư nhỏ lẻ.
Xây dựng dự toán ngân sách sát thực tế
Đối với điều hành ngân sách, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn làm rõ thêm về chất lượng lập dự toán, tình trạng chuyển nguồn và tạm ứng vốn được đại biểu Quốc hội quan tâm.
Trước hết về xây dựng dự toán, đúng như đại biểu đã nêu, Bộ trưởng cho biết, đây không phải là vấn đề mới và Bộ Tài chính đang cố gắng để việc xây dựng dự toán sát với kết quả thực hiện.
Bộ trưởng thông tin, năm 2025, thu ngân sách thực hiện tăng 36% so với dự toán và tăng 34% so với năm 2024. Nguyên nhân được Bộ trưởng thẳng thắn chỉ rõ do công tác phân tích, dự báo còn hạn chế. “Chính vì thế mà chúng ta phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác phân tích dự báo này”, Bộ trưởng nói.
Bên cạnh nguyên nhân trên, Bộ trưởng cho hay, có những nguyên nhân bất khả kháng khó có thể dự báo. Điển hình như tăng trưởng kinh tế thực tế năm 2025 đạt 8,02%, cao hơn đáng kể so với mức dự báo 5,5-6,5% được đưa ra từ đầu năm.
Bên cạnh đó, nhờ Quốc hội thông qua Luật Đất đai năm 2024, thu từ đất năm 2025 cũng tăng trưởng mạnh mẽ, đạt trên 700.000 tỷ đồng, tương đương mức tăng khoảng 98%. Một số khoản thu bất thường như chênh lệch thu chi của ngân hàng, bán vốn nhà nước và cổ tức cũng góp phần làm tăng thu ngân sách.
Về chuyển nguồn, năm 2025, tổng số chuyển nguồn lên tới 1,8 triệu tỷ đồng, tương đương hơn 40% dự toán. Bộ trưởng lý giải tình trạng này xuất phát từ việc tăng thu lớn vào cuối năm, triển khai nhiều dự án hạ tầng quan trọng có thời gian thực hiện dài và chuyển nguồn cho thực hiện chính sách tiền lương.
Khâu chuẩn bị và thực thi là quan trọng nhất để giảm ICOR
Đối với tình hình giải ngân đầu tư công năm 2026, theo Bộ trưởng, 9 tháng đạt 62,9%, tăng 203.000 tỷ đồng so với cùng kỳ. Trong đó, tỷ lệ tạm ứng khoảng 37%, chủ yếu dành cho các công trình hạ tầng quan trọng.
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 312/NQ-CP ngày 8/10, yêu cầu tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, đẩy mạnh thanh toán tạm ứng, bảo đảm nguồn vốn được thanh quyết toán sớm, sớm đưa các công trình vào triển khai.
![]() |
| Quang cảnh phiên họp. Ảnh: VPQH |
Bộ trưởng nhấn mạnh, muốn giảm hệ số ICOR, nâng cao hiệu quả đầu tư thì các công trình phải sớm được đưa vào sử dụng. Muốn vậy, phải từ nâng cao hiệu quả từ khâu chuẩn bị đến khâu tổ chức triển khai cũng như thanh quyết toán và đưa vào vận hành.
Theo Bộ trưởng, một công trình nhóm B có thể mất ít nhất 18 tháng đến 2 năm để chuẩn bị. Đối với các dự án ODA, việc điều chỉnh dự án, dự toán, thiết kế phức tạp hơn do phải thỏa thuận với phía nước ngoài và ký lại hiệp định, kéo dài thời gian thực hiện.
“Vì thế, để đẩy nhanh công trình đưa vào khai thác, tăng hiệu quả, giảm chỉ số ICOR và giảm chuyển nguồn, giảm tạm ứng thì khâu chuẩn bị dự án và khâu thực thi vẫn là quan trọng nhất”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Liên quan đến kiến nghị của các đại biểu Quốc hội về bố trí vốn cho các công trình phòng, chống lũ lụt, ngập mặn, xâm nhập mặn và nước biển dâng tại Đồng bằng sông Cửu Long, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2026-2030 đang bố trí 214.000 tỷ đồng vốn hỗ trợ có mục tiêu của ngân sách Trung ương cho các vùng.
Cùng với đó, dự kiến có thêm khoảng 56.600 tỷ đồng vốn ODA, nâng tổng nguồn lực hỗ trợ cho Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu lên mức khoảng 18% tổng vốn hỗ trợ có mục tiêu của ngân sách Trung ương trong nhiệm kỳ 2026-2030.
Mức bố trí vốn này tăng gấp đôi so với giai đoạn 2021-2025. Trong giai đoạn trước, nguồn vốn này được bố trí 108.000 tỷ đồng, trong khi giai đoạn 2026-2030 dự kiến đạt 214.000 tỷ đồng.
Bộ trưởng cho biết, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục đàm phán với các tổ chức quốc tế để huy động thêm nguồn lực, qua đó đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình ứng phó biến đổi khí hậu tại khu vực.