![]() |
| Phát triển công nghiệp văn hóa cũng đặt ra yêu cầu chuyển hóa nguồn lực sáng tạo thành sản phẩm, dịch vụ có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Thiết kế: Hương Quỳnh, hỗ trợ bởi AI. |
Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ là bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa mà còn đặt ra yêu cầu chuyển hóa nguồn lực sáng tạo thành sản phẩm, dịch vụ có khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Trong quá trình đó, chính sách tài chính, hỗ trợ và ưu đãi thuế được kỳ vọng góp phần thu hút đầu tư, phát triển nhân lực, thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ và mở rộng thị trường cho sản phẩm văn hóa Việt Nam.
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa do Chính phủ trình Quốc hội đề xuất nhiều cơ chế nhằm tạo động lực phát triển cho lĩnh vực này.
Đáng chú ý, dự thảo đề xuất miễn thuế thu nhập cá nhân (TNCN) trong thời hạn 5 năm đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của nhân lực công nghiệp văn hóa chất lượng cao trong ba trường hợp: thu nhập từ dự án hoạt động công nghiệp văn hóa tại các cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; từ dự án nghiên cứu và phát triển, sản xuất tác phẩm, sản phẩm lõi, sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm; và từ hoạt động đào tạo nhân lực công nghiệp văn hóa.
Dự thảo cũng xác định nhân lực công nghiệp văn hóa chất lượng cao là người có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kinh nghiệm và năng lực sáng tạo cao trong các ngành công nghiệp văn hóa.
Dự thảo cũng đồng thời đề cập nhóm nhân tài có tài năng nổi trội, thể hiện qua năng lực chuyên môn, kinh nghiệm, thành tích hoặc đóng góp có giá trị cho sự phát triển của ngành.
Ngoài ưu đãi thuế, hai nhóm này được đề xuất hưởng chính sách thu hút, trọng dụng tương tự nguồn nhân lực chất lượng cao và nhân tài công nghệ số theo pháp luật về công nghiệp công nghệ số.
Với các chính sách mới, việc xác định rõ đối tượng, điều kiện và phạm vi ưu đãi là yêu cầu quan trọng để bảo đảm khả năng thực thi.
Thảo luận về dự thảo Luật ngày 24/10, đại biểu Bùi Thị Quỳnh Thơ, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Tĩnh đề nghị rà soát các quy định về hỗ trợ nâng cao năng lực phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã công nghiệp văn hóa, bảo đảm tiêu chí tham gia chính sách rõ ràng, tránh chồng lấn.
Theo đại biểu, dự thảo quy định doanh nghiệp, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa trọng điểm hoặc phát triển sản phẩm công nghiệp văn hóa có bản sắc Việt Nam được tham gia các hoạt động hỗ trợ. Tuy nhiên, hai tiêu chí này có thể chồng lấn, bởi sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm đã gắn với bản sắc văn hóa Việt Nam. Đại biểu đề nghị nghiên cứu gộp hai tiêu chí hoặc giữ nguyên nhưng quy định rõ thứ tự ưu tiên đối với sản phẩm trọng điểm.
Đối với đề xuất miễn thuế TNCN trong 5 năm, đại biểu Bùi Thị Quỳnh Thơ đề xuất xác định rõ thời điểm bắt đầu tính thời hạn miễn thuế, chẳng hạn từ khi cá nhân có thu nhập thuộc diện được hưởng chính sách, nhằm bảo đảm thống nhất trong áp dụng.
Về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), dự thảo bổ sung khoản tài trợ bằng tiền hoặc tài sản cho cơ sở công nghiệp văn hóa vào nhóm chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Đại biểu cho rằng cần quy định cụ thể những khoản chi được chấp nhận, tạo căn cứ rõ ràng cho cơ quan Thuế thực hiện và tránh khó khăn trong quản lý.
Đại biểu cũng đề nghị rà soát tổng thể các quy định về tài chính, hỗ trợ và ưu đãi đầu tư, làm rõ đối tượng, điều kiện, mức độ ưu tiên và nguồn lực thực hiện; bảo đảm không trùng lặp với chính sách hiện hành, không tạo cơ chế xin – cho hoặc phát sinh thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh không cần thiết.
Những vấn đề này cho thấy, hiệu quả của ưu đãi không chỉ phụ thuộc vào mức độ hỗ trợ mà còn ở khả năng xác định đúng đối tượng, điều kiện thụ hưởng và cách thức áp dụng thống nhất.
Nếu tiêu chí chưa rõ, chính sách có thể phát sinh cách hiểu khác nhau trong thực hiện, làm giảm tính minh bạch và hiệu quả khuyến khích.
Trước đó, cho ý kiến vào dự thảo lần thứ nhất, TS. KTS Phan Đăng Sơn, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam nhấn mạnh, cơ chế thuế và tài chính là công cụ có sức kích hoạt động lực xã hội mạnh nhất trong toàn bộ dự thảo Luật. Khác với các biện pháp hành chính vốn phụ thuộc năng lực bộ máy, ưu đãi thuế tác động trực tiếp tới quyết định đầu tư của hàng nghìn doanh nghiệp và cá nhân, không cần thêm thủ tục xét duyệt, và có hiệu ứng lan tỏa tự động.
Một đồng thuế được miễn đúng chỗ có thể huy động nhiều đồng vốn xã hội. Ngược lại, một ưu đãi được thiết kế sai địa chỉ sẽ vừa mất thu ngân sách vừa không tạo ra chuyển động nào.
Theo TS. KTS Phan Đăng Sơn, nếu chính sách chỉ xác định lĩnh vực thuộc diện ưu đãi, nhưng không làm rõ lợi ích cụ thể, hiệu quả khuyến khích đầu tư có thể chưa tương xứng với mục tiêu đặt ra. Do vậy, cần quy định trực tiếp mức ưu đãi hoặc sửa đổi tương ứng các luật thuế để chính sách tạo ra lợi ích cụ thể trong thực tế.
Bên cạnh việc xác định đối tượng thụ hưởng, mối quan hệ giữa các cơ chế ưu đãi trong dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa với hệ thống pháp luật thuế hiện hành cũng là vấn đề được đặt ra.
Liên quan đến các chính sách tài chính, hỗ trợ đầu tư, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết, đây là những chính sách ưu đãi đặc thù mới nhằm phát triển công nghiệp văn hóa. Chính phủ ghi nhận sự đồng tình của các đại biểu đối với việc xây dựng luật để bổ sung đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi đặc thù.
Tuy nhiên, Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu rà soát kỹ quy định về ưu đãi đầu tư và đối tượng hưởng chính sách thuế trong dự thảo, đối chiếu với pháp luật hiện hành để bảo đảm tính thống nhất, xác định đúng đối tượng thụ hưởng và phù hợp với chính sách trong các lĩnh vực công nghiệp công nghệ số, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trong báo cáo thẩm tra dự án luật, cơ quan thẩm tra cũng đề nghị tiếp tục rà soát các quy định về ưu đãi thuế TNDN, TNCN và hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT), làm rõ nguyên tắc, khung hoặc trần mức hoàn thuế, bảo đảm đồng bộ với các luật thuế liên quan.
Đại biểu Lê Hoàng Anh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai, chỉ ra một số vướng mắc trong chính sách thu hút đoàn làm phim nước ngoài. Theo đại biểu, dự thảo quy định hoàn 100% thuế GTGT tại khoản 4 Điều 36, nhưng khoản 3 Điều 37 lại giao Chính phủ quy định số thuế được hoàn. Điều kiện hoàn thuế cũng có thể khó thực hiện do đoàn phim nước ngoài thường không có mã số thuế tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, một dự án có thể đồng thời được hoàn thuế cho đoàn phim nước ngoài và nhận hỗ trợ chi phí cho doanh nghiệp Việt Nam phục vụ đoàn phim, trong khi chưa có trần chung cho các hình thức hỗ trợ.
Do vậy, cần xây dựng chương trình hỗ trợ thống nhất, căn cứ chi tiêu thực tế tại Việt Nam, quy định mức trần và tổng kinh phí hằng năm; chỉ chi trả sau khi nghiệm thu chi phí thực tế. Cơ chế hoàn thuế GTGT cần được quy định trong Luật thuế GTGT.
Việc hoàn thiện các cơ chế ưu đãi theo hướng rõ đối tượng, minh bạch điều kiện và đồng bộ với pháp luật thuế sẽ góp phần bảo đảm nguồn lực hỗ trợ được sử dụng đúng mục tiêu, tạo động lực thực chất cho công nghiệp văn hóa phát triển.