![]() |
| Công chức Thuế cơ sở 1 tỉnh Nghệ An chuẩn bị thông báo gửi người nộp thuế ở trạng thái 03, 06. Ảnh cơ quan Thuế cung cấp |
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết của Quốc hội ban hành chính sách đặc thù về xử lý nợ thuế để tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế trong thực hiện Luật Quản lý thuế, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách về trao đổi thông tin theo yêu cầu.
Theo dự thảo, đối tượng áp dụng gồm người nộp thuế thuộc trường hợp phải nộp lệ phí môn bài theo quy định; người nộp thuế được cơ quan thuế xác định ở trạng thái ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế (trạng thái 03) hoặc không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký với cơ quan thuế (trạng thái 06).
Một trong những nội dung đáng chú ý là đề xuất xóa nợ lệ phí môn bài phát sinh đến hết ngày 31/12/2025 đã được hạch toán, theo dõi trên hệ thống thông tin quản lý thuế và tiền chậm nộp lệ phí môn bài.
Đối với nghĩa vụ lệ phí môn bài phát sinh đến hết ngày 31/12/2025 nhưng người nộp thuế chưa thực hiện kê khai, nộp và chưa được hạch toán trên Hệ thống thông tin quản lý thuế, dự thảo đề xuất không phải kê khai, nộp lệ phí môn bài và không bị tính tiền chậm nộp đối với nghĩa vụ này.
Từ ngày 1/1/2026, việc tiếp tục duy trì các biện pháp quản lý, đôn đốc, cưỡng chế đối với các khoản nợ lệ phí môn bài còn tồn đọng cần có cơ chế xử lý phù hợp, nhất là đối với người nộp thuế đã ngừng hoạt động trên thực tế.
Dự thảo cũng đề xuất cơ chế xử lý tiền chậm nộp đối với người nộp thuế thuộc trạng thái 03, 06. Theo đó, xóa số tiền chậm nộp phát sinh đến ngày người nộp thuế hoàn thành việc nộp đủ tiền thuế nợ gốc vào ngân sách nhà nước.
Trường hợp người nộp thuế đã thanh toán đủ hoặc không còn tiền thuế nợ gốc trước ngày Nghị quyết có hiệu lực thì được xóa số tiền chậm nộp còn nợ.
Để được xóa tiền chậm nộp, người nộp thuế phải nộp đầy đủ hồ sơ hợp lệ đề nghị khôi phục, hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế, được cơ quan thuế tiếp nhận chậm nhất vào ngày kết thúc thời hạn áp dụng Nghị quyết.
| Dự thảo quy định không áp dụng chính sách đối với các khoản tiền thuế nợ liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế, sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp hoặc vụ việc đang được thanh tra, kiểm tra, truy tố, xét xử. Chính sách cũng không áp dụng đối với các khoản tiền thuế nợ liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc nghĩa vụ thuế phát sinh từ hoạt động này trong thời gian người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký hoặc ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Riêng việc xử lý lệ phí môn bài và tiền chậm nộp lệ phí môn bài vẫn được thực hiện theo Điều 4 của dự thảo Nghị quyết. |
Đồng thời, phải thanh toán đủ tiền thuế nợ gốc trong thời hạn này.
Trường hợp không còn tiền thuế nợ gốc phải thanh toán thì được xác định đáp ứng điều kiện trên cơ sở dữ liệu đã được cơ quan thuế đối chiếu, xác nhận.
Theo dự thảo, tiền thuế nợ gốc bao gồm tiền thuế, tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính do cơ quan quản lý thuế thực hiện và các khoản thu khác theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 38 Luật Quản lý thuế; không bao gồm khoản nợ lệ phí môn bài được xóa theo Điều 4 của Nghị quyết.
Đối với người nộp thuế đã được xóa tiền chậm nộp theo Nghị quyết số 94/2019/QH14, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện, cơ quan có thẩm quyền không phải thực hiện thủ tục hủy quyết định xóa tiền chậm nộp đã ban hành.
Đối với người nộp thuế đang bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế đối với khoản nợ lệ phí môn bài và tiền chậm nộp lệ phí môn bài thuộc diện được xóa, cơ quan Thuế thực hiện chấm dứt hiệu lực biện pháp cưỡng chế đối với số tiền đã được xử lý xóa nợ.
Bộ Tài chính cho rằng việc xử lý các khoản nợ tồn đọng cần bảo đảm nguyên tắc công bằng, minh bạch, đúng đối tượng, không làm giảm nghĩa vụ thuế gốc của người nộp thuế và không tạo cơ chế khuyến khích hành vi chậm thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước.
Theo số liệu tổng hợp của Bộ Tài chính, tính đến ngày 23/10/2026, cả nước có 2.518.440 người nộp thuế ở trạng thái 03 và 06.
![]() |
| Tình trạng người nộp thuế ở trạng thái 03, 06 tồn đọng xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Ảnh: Internet. |
Trong đó, trạng thái 03 có 643.383 trường hợp, gồm 211.802 doanh nghiệp, tổ chức (bao gồm cả chi nhánh) và 431.581 hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Trạng thái 06 có 1.875.057 trường hợp, gồm 861.010 doanh nghiệp, tổ chức (bao gồm cả chi nhánh) và 1.014.047 hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Đáng chú ý, có 529.041 người nộp thuế đã ngừng hoạt động hoặc không hoạt động tại địa chỉ đăng ký từ năm 2015 trở về trước, chiếm khoảng 21% tổng số trường hợp thuộc hai trạng thái.
Tổng số tiền thuế nợ của người nộp thuế ở trạng thái 03, 06 là 27.805 tỷ đồng. Trong đó, nợ gốc 18.090 tỷ đồng, chiếm khoảng 65%; nợ tiền chậm nộp 9.715 tỷ đồng, chiếm khoảng 35%.
Bộ Tài chính đánh giá, quy mô tiền chậm nộp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nợ và tiếp tục có xu hướng tăng theo thời gian. Điều này cho thấy việc xử lý các khoản nợ kéo dài là một trong những vấn đề cần được tháo gỡ để tạo điều kiện cho người nộp thuế hoàn tất thủ tục về mã số thuế.
Bên cạnh các khoản nợ đã được hạch toán, hiện còn gần 2 triệu người nộp thuế ở trạng thái 03 do bị cơ quan đăng ký kinh doanh thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, và trạng thái 06. Đối với những trường hợp này, hệ thống chưa hạch toán nghĩa vụ lệ phí môn bài trong thời gian người nộp thuế ngừng hoạt động.
Theo ước tính sơ bộ, nếu toàn bộ số người nộp thuế này quay lại thực hiện thủ tục khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế, nghĩa vụ lệ phí môn bài chưa hạch toán có thể khoảng 15.000 tỷ đồng.
Thực tế cho thấy, tình trạng người nộp thuế ở trạng thái 03, 06 tồn đọng qua nhiều thời kỳ xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Trong đó, thủ tục gia nhập thị trường ngày càng được đơn giản hóa, nhưng việc rút khỏi thị trường, giải thể và chấm dứt hiệu lực mã số thuế phải gắn với yêu cầu hoàn thành các nghĩa vụ về hồ sơ, thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt và các khoản nợ khác.
Đối với những người nộp thuế đã ngừng hoạt động thực tế nhưng còn tồn đọng nghĩa vụ tài chính, việc hoàn tất thủ tục theo quy trình thông thường gặp nhiều khó khăn.
Một số doanh nghiệp không còn sổ sách, chứng từ, con dấu, chữ ký số hoặc không liên hệ được người đại diện theo pháp luật. Có trường hợp đã ngừng hoạt động nhiều năm, không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ tài chính nhưng vẫn tồn tại trên hệ thống quản lý thuế.
Việc tiếp tục theo dõi các khoản nợ không còn khả năng thu hồi làm tăng khối lượng quản lý, trong khi người nộp thuế không thể hoàn thành thủ tục khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Qua triển khai Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”, kết quả xử lý thực chất còn hạn chế, số phát sinh mới ở trạng thái 06 tiếp tục lớn hơn kết quả xử lý. Các giải pháp hiện nay chủ yếu tạo chuyển biến về rà soát, phân loại và thực hiện thủ tục hành chính, chưa giải quyết được những vướng mắc về nghĩa vụ tài chính tồn đọng.
Trong 10 tháng đầu năm 2026, cơ quan Thuế đã giải quyết chấm dứt hiệu lực mã số thuế đối với 777.835 trường hợp, gồm 143.786 doanh nghiệp, tổ chức và 634.049 hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Theo đề xuất, Nghị quyết có hiệu lực kể từ ngày được Quốc hội thông qua. Các chính sách được áp dụng đến hết ngày 30/6/2028, trừ các trường hợp được tiếp tục giải quyết theo quy định.
Nếu chậm nhất ngày 30/6/2028, người nộp thuế đã nộp đầy đủ hồ sơ hợp lệ được cơ quan thuế tiếp nhận và đáp ứng điều kiện thanh toán tiền thuế nợ gốc, cơ quan thuế tiếp tục xử lý tiền chậm nộp, giải quyết khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế theo Nghị quyết, kể cả khi đã hết thời hạn áp dụng.
| Dự kiến trình tự, thời hạn xử lý xóa nợ thuế Người nộp thuế không phải lập hồ sơ đề nghị xóa nợ riêng. Cơ quan Thuế căn cứ dữ liệu trên Hệ thống thông tin quản lý thuế và hồ sơ có liên quan để thực hiện xử lý. 1. Đối với nợ lệ phí môn bài và tiền chậm nộp lệ phí môn bài Trong 6 tháng kể từ ngày Nghị quyết có hiệu lực: Cơ quan Thuế hoàn thành việc xử lý xóa nợ trên hệ thống và ban hành quyết định xóa nợ. Trong 3 ngày làm việc kể từ ngày phê duyệt kết quả: Thông báo qua tài khoản thuế điện tử của người nộp thuế và công khai danh sách được xóa nợ trên trang thông tin điện tử của cơ quan Thuế. Trường hợp đang bị cưỡng chế đối với khoản nợ thuộc diện được xóa, cơ quan Thuế chấm dứt hiệu lực biện pháp cưỡng chế đối với số tiền đã được xử lý. 2. Đối với tiền chậm nộp của người nộp thuế trạng thái 03, 06 Trong 10 ngày làm việc kể từ khi có đủ hồ sơ hợp lệ và căn cứ xác định đáp ứng điều kiện: Cơ quan thuế phê duyệt, điều chỉnh giảm tiền chậm nộp thuộc diện được xóa trên hệ thống. Trong 3 ngày làm việc kể từ ngày phê duyệt: Thông báo kết quả cho người nộp thuế; nếu không đủ điều kiện xóa, phải nêu rõ lý do. |