![]() |
| Nguyễn Thị Lan Anh - Trưởng ban Pháp chế - Cục Thuế (Bộ Tài chính). |
Phóng viên: Trong bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp đang vận hành nhiều hệ thống dữ liệu khác nhau cho mục đích quản trị và kê khai thuế. Đứng dưới góc độcơ quan Thuế, xin bà cho biết minh bạch sổ sách kế toán cần được hiểu như thế nào và việc tồn tại nhiều hệ thống dữ liệu có đồng nghĩa với hành vi vi phạm hay không?
Bà Nguyễn Thị Lan Anh: Trước hết, cần khẳng định rằng cơ quan Thuế luôn xem xét dựa trên sự thống nhất giữa các quy định pháp luật kế toán và thuế. Bản chất của hai nguồn cơ sở dữ liệu này có những sự tương đồng mật thiết. Khi chúng tôi đánh giá các nguồn cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp, mục tiêu cốt yếu là đánh giá bản chất của hoạt động sản xuất kinh doanh, tính trung thực và sự thống nhất của dữ liệu.
Thực tế, doanh nghiệp có thể tồn tại hai hệ thống dữ liệu: một phục vụ quản trị doanh nghiệp và một phục vụ tài chính kế toán. Tuy nhiên, dữ liệu dù dùng cho mục tiêu nào cũng phải đảm báo tính thống nhất và duy nhất. Từ nguồn gốc đó, doanh nghiệp có thể chiết xuất ra các hệ thống khác nhau để phục vụ các mục tiêu quản trị khác nhau, nhưng điều tiên quyết là phải đảm bảo tính trung thực và đồng nhất.
Có thể khẳng định, khi có sự chênh lệch giữa các hệ thống mà có khả năng giải trình được dựa trên các dữ liệu gốc chính xác và có thể đối chiếu, kiểm chứng với hoạt động sản xuất kinh doanh thì không thể mặc nhiêm coi đó là vi phạm được. Tuy nhiên doanh nghiệp có nhiều hệ thống sổ sách kế toán và dẫn đến sai lệch nghĩa vụ thuế thì đó là hành vi vi phạm pháp luật
Phóng viên: Vậy thưa bà, trong trường hợp cơ quan Thuế phát hiện sự khác biệt giữa hệ thống dữ liệu nội bộ và báo cáo tài chính, quan điểm xử lý của cơ quan Thuế sẽ như thế nào để đảm bảo tính công bằng nhưng vẫn thấu đáo cho doanh nghiệp?
Bà Nguyễn Thị Lan Anh: Chúng tôi không mặc nhiên coi mọi sự chênh lệch là vi phạm. Cơ quan Thuế sẽ đi sâu vào xem xét bản chất và nguyên nhân cụ thể của sự chênh lệch đó.
Trong thực tiễn, có nhiều lý do khách quan dẫn đến sự khác biệt, chẳng hạn như: thời điểm ghi nhận khác nhau, phương pháp phân bổ chi phí không đồng nhất, cách thức theo dõi quản trị nội bộ đặc thù, hoặc đơn giản là doanh nghiệp tạm tính số liệu để phục vụ điều hành hỏa tốc.
Tuy nhiên, ranh giới giữa “sai sót khách quan” và “vi phạm pháp luật” nằm ở mục đích của hành vi. Nếu một doanh nghiệp duy trì hệ thống sổ kế toán dùng để kê khai thuế thấp hơn hệ thống quản trị thực tế nhằm mục đích sai lệch nghĩa vụ thuế, đó rõ ràng là hành vi vi phạm chế độ sổ sách kế toán.
Chính vì vậy điều quan trọng doanh nghiệp phải có quy trình quản lý dữ liệu để phục vụ đối chiếu dữ liệu và có tài liệu để chứng minh việc chênh lệch này không nhằm che dấu doanh thu hoặc làm sai lệch dữ liệu thuế.
Có thể nói cơ quan Thuế sẽ đánh giá rủi ro pháp lý dựa trên việc đơn vị có sử dụng dữ liệu đó để tránh thuế, trốn thuế hay không. Khi đó, cơ quan Thuế sẽ đi vào bản chất vấn đề để xác định nghĩa vụ thuế một cách chính xác nhất.
![]() |
| Doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng nguồn dữ liệu gốc đảm bảo tính trung thực và thống nhất ngay từ đầu |
Phóng viên: Để tránh những rủi ro pháp lý không đáng có và nâng cao hiệu quả quản trị, bà có lời khuyên hay khuyến nghị cụ thể nào dành cho cộng đồng doanh nghiệp trong việc quản lý dữ liệu?
Bà Nguyễn Thị Lan Anh: Dưới góc độ cơ quan Thuế, tôi cho rằng “dữ liệu gốc” chính là chìa khóa. Doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng nguồn dữ liệu gốc đảm bảo tính trung thực và thống nhất ngay từ đầu.
Có thể đưa ra 4 khuyến nghị trọng tâm cho doanh nghiệp:
Thứ nhất: Hạn chế can thiệp thủ công giảm thiểu việc nhập liệu nhiều lần hoặc sửa chữa dữ liệu thủ công, vì đây là khâu dễ dẫn đến sai sót và làm mất tính toàn vẹn của dữ liệu.
Thứ hai: cần tăng cường kết nối hệ thống, doanh nghiệp nên xây dựng giải pháp kết nối thống nhất giữa dữ liệu hóa đơn điện tử, dữ liệu bán hàng và dữ liệu kế toán. Lý tưởng nhất là từ hệ thống quản trị, doanh nghiệp có thể tự động lên tờ khai thuế để tránh các sai lệch cơ học.
Thứ ba: cần thực hiện rà soát định kỳ: Doanh nghiệp cần chủ động đối chiếu các chênh lệch định kỳ, ghi chú lại nguyên nhân cụ thể. Việc lưu giữ lịch sử dữ liệu rõ ràng, mạch lạc sẽ giúp doanh nghiệp giải trình được ngay khi cơ quan quản lý yêu cầu.
Thứ tư: ứng dụng công nghệ cao cơ quan Thuế rất khuyến khích doanh nghiệp áp dụng công nghệ thông tin, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản trị dữ liệu và kê khai nộp thuế.
Phóng viên: Bà có thể nhấn mạnh thêm về yêu cầu “minh bạch” mà cơ quan Thuế kỳ vọng ở các hệ thống dữ liệu doanh nghiệp hiện nay?
Bà Nguyễn Thị Lan Anh: Sự minh bạch không chỉ là yêu cầu pháp lý mà còn là quyền lợi của doanh nghiệp. Chúng tôi nhấn mạnh rằng dữ liệu về kế toán, hóa đơn và kê khai thuế phải có tính thống nhất hoàn toàn và có thể kiểm chứng được.
Dữ liệu phải phản ánh đúng bản chất hoạt động kinh doanh thực tế phát sinh. Một hệ thống dữ liệu minh bạch, có lịch sử lưu vết rõ ràng sẽ là bằng chứng tốt nhất để bảo vệ doanh nghiệp trước các nghi vấn về thuế. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một môi trường kinh doanh mà ở đó, dữ liệu là “ngôn ngữ chung” tin cậy giữa doanh nghiệp và cơ quan Thuế.
Trân trọng cảm ơn bà!