Thứ sáu 30/10/2026 16:35
Thời tiết: Hà Nội 30°C
Đà Nẵng 29°C
Cà Mau 30°C
Hải Phòng 29°C
TP Hồ Chí Minh 32°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa

Nhờ VIFTA, thương mại Việt Nam - Israel 10 tháng đạt 3,5 tỷ USD

Ngô Kiến
Kim ngạch thương mại Việt Nam - Israel trong 10 tháng năm 2026 đạt 3,5 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này vượt mốc 1 tỷ USD. Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Israel (VIFTA) đang mở thêm dư địa thúc đẩy giao thương, nâng cao sức cạnh tranh cho hàng Việt. Tuy nhiên, để biến lợi thế từ hiệp định thành tăng trưởng thực chất, doanh nghiệp cần chủ động khai thác ưu đãi thuế quan, đáp ứng quy tắc xuất xứ và mở rộng kết nối với đối tác Israel.
Nhờ VIFTA, thương mại Việt Nam - Israel 10 tháng đạt 3,5 tỷ USD
Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI.

Ưu đãi thuế quan mở thêm dư địa cho xuất khẩu

Theo Thương vụ Việt Nam tại Israel, kim ngạch thương mại hàng hóa song phương năm 2024 đạt 3,25 tỷ USD, tăng gần 21% so với cùng kỳ năm 2023; năm 2025 đạt 3,63 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2024. Trong 10 tháng năm 2026, con số này đạt 3,5 tỷ USD và dự kiến cả năm có thể đạt khoảng 4,4 tỷ USD, tăng trên 21% so với năm 2025.

Nhờ VIFTA, thương mại Việt Nam - Israel 10 tháng đạt 3,5 tỷ USD

Để tận dụng hiệu quả VIFTA, doanh nghiệp Việt Nam cần kết hợp ba việc: khai thác đúng ưu đãi thuế quan, đáp ứng đầy đủ điều kiện xuất xứ và chủ động tìm kiếm đối tác phù hợp. Với những doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới công nghệ, việc mở rộng hợp tác nghiên cứu, đào tạo và phát triển sản phẩm cũng là hướng đi cần được tính đến.

Ông Chen Peretz, Tham tán thương mại, Trưởng Văn phòng Kinh tế Israel tại Việt Nam

áng chú ý, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Israel tăng từ 795 triệu USD năm 2024 lên 865 triệu USD năm 2025. Trong 10 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu đã vượt 1 tỷ USD, với dự kiến cả năm đạt khoảng 1,3 tỷ USD, tăng khoảng 50,3% so với cùng kỳ năm 2025.

Theo đánh giá của ông Lê Thái Hòa, Tham tán thương mại, phụ trách Thương vụ Việt Nam tại Israel, gần 2 năm thực thi, Hiệp định VIFTA đã phát huy lợi thế, tạo xung lực cho quan hệ hợp tác, trao đổi thương mại giữa hai nước.

Theo ông Hòa, việc cắt giảm thuế quan theo lộ trình, trong đó Israel xóa bỏ thuế quan và áp dụng hạn ngạch ưu đãi, giúp nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam nâng cao sức cạnh tranh và thâm nhập tốt hơn vào thị trường này.

VIFTA thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam và Israel trong mở cửa thị trường, với tỷ lệ tự do hóa thuế quan đến cuối lộ trình đạt 92,7% số dòng thuế của Israel và 85,8% số dòng thuế của Việt Nam.

Những cam kết này tạo nền tảng thuận lợi để doanh nghiệp hai nước mở rộng giao thương, nâng cao sức cạnh tranh hàng hóa và khai thác tốt hơn cơ hội xuất nhập khẩu. Khi Hiệp định được thực thi hiệu quả, thương mại song phương được kỳ vọng tiếp tục tăng trưởng, mở rộng vượt mốc 3 tỷ USD và hướng tới những quy mô cao hơn trong thời gian tới.

Tuy nhiên, mức ưu đãi thực tế không giống nhau đối với mọi mặt hàng. Do đó, doanh nghiệp Việt cần căn cứ mã hàng, lộ trình cắt giảm thuế và điều kiện áp dụng để xác định mức thuế có thể hưởng, thay vì mặc nhiên cho rằng tất cả hàng hóa xuất nhập khẩu giữa hai nước đều được miễn thuế.

Nông sản, thủy sản và hàng tiêu dùng còn nhiều dư địa

Một trong những điều kiện quan trọng để phát huy hiệu quả của VIFTA là thực hiện đúng quy tắc xuất xứ hàng hóa.

Theo Bộ Công Thương, hàng hóa muốn được hưởng ưu đãi phải đáp ứng tiêu chí xuất xứ tương ứng quy định trong Hiệp định VIFTA và Thông tư số 11/2024/TT-BCT quy định Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định VIFTA. Các tiêu chí có thể liên quan đến xuất xứ thuần túy, chuyển đổi mã số hàng hóa hoặc công đoạn gia công, chế biến cụ thể.

Điều này đòi hỏi doanh nghiệp quan tâm đến xuất xứ ngay từ khâu lựa chọn nguyên liệu, tổ chức sản xuất và lưu giữ chứng từ, thay vì chỉ hoàn thiện hồ sơ khi chuẩn bị giao hàng. Với những sản phẩm sử dụng nguyên liệu nhập khẩu, doanh nghiệp cần đối chiếu quy tắc cụ thể theo từng mặt hàng để xác định liệu quá trình sản xuất tại Việt Nam có đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi hay không.

PGS. TS Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế cho rằng, giá trị của VIFTA không chỉ nằm ở việc mở rộng thị trường hay giảm thuế, mà còn ở khả năng tạo điều kiện để Việt Nam tiếp cận và làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất.

Theo ông Long, Việt Nam có lợi thế về quy mô thị trường, lực lượng lao động và năng lực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp; trong khi Israel có thế mạnh về tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Việc kết hợp những lợi thế này có thể mở ra hướng hợp tác rộng hơn cho doanh nghiệp hai nước.

Ở góc độ xuất nhập khẩu, cách tiếp cận đó có ý nghĩa đối với cả hai chiều thương mại. Doanh nghiệp Việt Nam có thể khai thác ưu đãi thuế quan để đưa hàng hóa vào Israel; đồng thời, việc nhập khẩu máy móc, thiết bị và giải pháp công nghệ từ Israel cũng có thể hỗ trợ cải thiện năng suất, chất lượng sản phẩm trong nước, nếu được lựa chọn phù hợp với nhu cầu sản xuất.

Theo Thương vụ Việt Nam tại Israel, kim ngạch thương mại hàng hóa song phương năm 2024 đạt 3,25 tỷ USD, tăng gần 21% so với cùng kỳ năm 2023; năm 2025 đạt 3,63 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2024. Trong 10 tháng năm 2026, con số này đạt 3,5 tỷ USD và dự kiến cả năm có thể đạt khoảng 4,4 tỷ USD, tăng trên 21% so với năm 2025.

Theo ông Lê Thái Hòa, những nhóm hàng Việt Nam có thế mạnh cần được chú trọng khai thác tại thị trường Israel gồm nông sản, thủy sản chế biến, cà phê và hàng tiêu dùng.

Cùng với đó, doanh nghiệp cần cải thiện kết nối logistics, tối ưu hóa tuyến vận tải để giảm chi phí trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư. “Ưu đãi thuế quan chỉ là một phần trong điều kiện tiếp cận thị trường. Doanh nghiệp vẫn cần tìm hiểu quy định kỹ thuật, yêu cầu của nhà nhập khẩu và đặc điểm tiêu dùng tại Israel. Việc xác định đúng mã hàng, chuẩn bị chứng từ xuất xứ và tính toán chi phí vận tải cần được thực hiện đồng bộ để tránh làm giảm lợi ích từ mức thuế ưu đãi”, ông Hoà cho hay.

Ông Hòa cho biết, Thương vụ Việt Nam tại Israel sẽ chú trọng tìm kiếm đối tác có công nghệ đã được thử nghiệm trong thực tế, kết nối với doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu, đồng thời cung cấp thông tin về quy định xuất nhập khẩu, logistics và tiêu chuẩn kỹ thuật tại thị trường sở tại.

Đối với doanh nghiệp nhập khẩu, việc tra cứu chính xác mã HS và biểu thuế áp dụng cũng rất quan trọng. Doanh nghiệp cần đối chiếu mức thuế theo đúng mã hàng, năm áp dụng và điều kiện liên quan, trong đó có quy định về hạn ngạch thuế quan đối với những mặt hàng thuộc diện này.

Từ ưu đãi thuế đến hợp tác dài hạn

Một vấn đề được các chuyên gia nhấn mạnh là doanh nghiệp không nên chỉ nhìn VIFTA như công cụ giảm chi phí xuất nhập khẩu. Theo PGS. TS Ngô Trí Long, hiệp định tạo ra cơ hội nhưng không tự động hình thành năng lực công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam.

Ông Long cho rằng cần phân biệt việc mua máy móc, thiết bị với hợp tác phát triển công nghệ. Theo ông, nếu chỉ dừng ở mua bán, doanh nghiệp có thể nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nhưng vẫn phụ thuộc vào công nghệ bên ngoài. Ngược lại, hợp tác nghiên cứu, đào tạo và cải tiến có thể giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng tiếp nhận, làm chủ và phát triển công nghệ.

Từ thực tế kết nối doanh nghiệp hai nước, ông Lê Thái Hòa cho rằng cần chuyển từ mua bán thiết bị, công nghệ đơn thuần sang cùng phát triển; xây dựng các mô hình hợp tác thực tế và nhân rộng những mô hình phù hợp.

Về phía doanh nghiệp Israel, ông Chen Peretz, Tham tán thương mại, Trưởng Văn phòng Kinh tế Israel tại Việt Nam, nhấn mạnh việc mong muốn mở rộng hợp tác dài hạn, vượt ra ngoài các giao dịch kinh doanh thông thường. Ông Chen Peretz cho rằng, doanh nghiệp cần tìm được đối tác có năng lực tại Việt Nam, đồng thời điều chỉnh sản phẩm và giải pháp công nghệ để phù hợp với điều kiện thị trường sở tại.

Theo ông Chen Peretz, để tận dụng hiệu quả VIFTA, doanh nghiệp Việt Nam cần kết hợp ba việc: khai thác đúng ưu đãi thuế quan, đáp ứng đầy đủ điều kiện xuất xứ và chủ động tìm kiếm đối tác phù hợp. Với những doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới công nghệ, việc mở rộng hợp tác nghiên cứu, đào tạo và phát triển sản phẩm cũng là hướng đi cần được tính đến.

Theo Bộ Công Thương, hàng hóa muốn được hưởng ưu đãi phải đáp ứng tiêu chí xuất xứ tương ứng quy định trong Hiệp định VIFTA và Thông tư số 11/2024/TT-BCT. Các tiêu chí có thể liên quan đến xuất xứ thuần túy, chuyển đổi mã số hàng hóa hoặc công đoạn gia công, chế biến cụ thể. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp quan tâm đến xuất xứ ngay từ khâu lựa chọn nguyên liệu, tổ chức sản xuất và lưu giữ chứng từ, thay vì chỉ hoàn thiện hồ sơ khi chuẩn bị giao hàng. Với những sản phẩm sử dụng nguyên liệu nhập khẩu, doanh nghiệp cần đối chiếu quy tắc cụ thể theo từng mặt hàng để xác định liệu quá trình sản xuất tại Việt Nam có đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi hay không.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xuất khẩu sang ASEAN: Gần về địa lý nhưng vẫn cần thận trọng

Xuất khẩu sang ASEAN: Gần về địa lý nhưng vẫn cần thận trọng

Thị trường ASEAN mở ra cơ hội cho hàng hóa Việt Nam, nhưng ưu đãi thuế quan không đồng nghĩa giao dịch an toàn. Khác biệt về tiêu chuẩn, thủ tục nhập khẩu, thanh toán và logistics có thể biến đơn hàng thành khoản thua lỗ lớn. Vì vậy, quản trị rủi ro phải bắt đầu trước khi chào hàng và ký kết hợp đồng.
Doanh nghiệp Việt Nam - Trung Quốc tăng kết nối logistics, chuỗi giá trị toàn cầu

Doanh nghiệp Việt Nam - Trung Quốc tăng kết nối logistics, chuỗi giá trị toàn cầu

Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch thương mại hai chiều đạt hàng trăm tỷ USD, việc doanh nghiệp hai nước tăng kết nối dịch vụ logistcis góp phần tham gia sâu vài chuỗi thương mại toàn cầu.
Xuất nhập khẩu chính thức cán mốc kỷ lục 1.000 tỷ USD

Xuất nhập khẩu chính thức cán mốc kỷ lục 1.000 tỷ USD

Theo thông tin từ Cục Hải quan, lũy kế từ đầu năm đến ngày 29/10/2026, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam chính thức cán mốc kỷ lục 1.000 tỷ USD.
Xuất khẩu da giày, túi xách năm 2026 vẫn còn dư địa

Xuất khẩu da giày, túi xách năm 2026 vẫn còn dư địa

Chín tháng năm 2026, xuất khẩu da giày, túi xách Việt Nam duy trì đà tăng trưởng giữa bối cảnh thương mại toàn cầu nhiều biến động. Kết quả cho thấy, sức bền của ngành, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh, đa dạng hóa thị trường, chủ động nguồn cung và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Xuất khẩu sang Trung Quốc: Doanh nghiệp cần chủ động kiểm soát chất lượng và chuỗi logistics

Xuất khẩu sang Trung Quốc: Doanh nghiệp cần chủ động kiểm soát chất lượng và chuỗi logistics

Xuất khẩu sang Trung Quốc mở ra dư địa cho hàng hóa Việt Nam, song lợi thế về địa lý không bảo đảm giao dịch an toàn. Từ thanh toán, xác minh đối tác đến vận tải, chứng từ, chỉ một mắt xích thiếu chặt chẽ cũng có thể khiến doanh nghiệp vướng tranh chấp. Vì vậy, doanh nghiệp cần chủ động quản trị rủi ro ngay từ khâu tìm kiếm đối tác và đàm phán hợp đồng.
Bộ Công Thương nhận hồ sơ đấu giá hạn ngạch nhập khẩu đường từ 29/10 đến ngày 4/11

Bộ Công Thương nhận hồ sơ đấu giá hạn ngạch nhập khẩu đường từ 29/10 đến ngày 4/11

Bộ Công Thương nhận hồ sơ tham gia đấu giá hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm 2026 từ ngày 29/10 đến 4/11. Giá khởi điểm là 2 triệu đồng/tấn, phiên đấu giá diễn ra ngày 18/11.
Thông báo 150 Trung Quốc mới ban hành có gì đáng chú ý

Thông báo 150 Trung Quốc mới ban hành có gì đáng chú ý

Thông báo số 150 của Tổng cục Hải quan Trung Quốc yêu cầu nhà xuất khẩu thực phẩm đăng ký, bảo đảm thông tin chính xác và cập nhật trong vòng 60 ngày khi có thay đổi. Với doanh nghiệp Việt Nam, trách nhiệm còn bao gồm cung cấp thông tin phục vụ khai báo và phối hợp kiểm tra.
Điện tử dẫn dắt tăng trưởng xuất nhập khẩu

Điện tử dẫn dắt tăng trưởng xuất nhập khẩu

Từ đầu năm đến ngày 15/10/2026, kim ngạch xuất nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 336,43 tỷ USD, chiếm 35,6% kim ngạch cả nước. Đáng chú ý, nhóm hàng này đều dẫn đầu về kim ngạch cả ở chiều xuất khẩu, nhập khẩu.
Xuất khẩu sang ASEAN cần kiểm soát rủi ro để giữ lợi thế cạnh tranh

Xuất khẩu sang ASEAN cần kiểm soát rủi ro để giữ lợi thế cạnh tranh

ASEAN là thị trường gần gũi, giàu tiềm năng nhưng cũng đặt ra nhiều yêu cầu đối với doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình xuất khẩu. Từ thẩm định đối tác, đàm phán hợp đồng đến thanh toán, logistics và chứng nhận xuất xứ, nhận diện đúng rủi ro tại từng thị trường là điều kiện quan trọng để tận dụng ưu đãi thương mại, bảo vệ lợi ích và phát triển xuất khẩu bền vững.
Xuất khẩu lốp xe nâng giá trị ngành cao su Việt Nam

Xuất khẩu lốp xe nâng giá trị ngành cao su Việt Nam

Xuất khẩu lốp xe đang mở thêm cơ hội phát triển sản phẩm cao su chế biến, gia tăng giá trị từ hoạt động sản xuất công nghiệp. Để khai thác bền vững thị trường này, doanh nghiệp cần gắn đầu tư công nghệ, liên kết nguyên liệu với quản trị rủi ro phòng vệ thương mại.
Logistics xanh: Giảm chi phí, nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp

Logistics xanh: Giảm chi phí, nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp

Chuyển đổi xanh trong logistics cần gắn với tiết kiệm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu. Đồng bộ hạ tầng, công nghệ và dữ liệu là yêu cầu quan trọng để đưa logistics xanh trở thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Xuất khẩu giảm vẫn phải đề phòng rủi ro phòng vệ thương mại

Xuất khẩu giảm vẫn phải đề phòng rủi ro phòng vệ thương mại

Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam được lưu ý về nguy cơ điều tra phòng vệ thương mại ngay cả khi kim ngạch giảm, từ đó đặt ra yêu cầu doanh nghiệp theo dõi vị thế tại từng thị trường và chuẩn bị hồ sơ chứng minh hoạt động sản xuất, nguồn gốc nguyên liệu từ sớm.
Xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc cần chủ động kiểm soát rủi ro

Xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc cần chủ động kiểm soát rủi ro

Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn, mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro với doanh nghiệp Việt Nam. Từ chính sách nhập khẩu, tiêu chuẩn hàng hóa đến thông quan, logistics và thanh toán, chủ động nhận diện, kiểm soát rủi ro giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy xuất khẩu bền vững.
Xuất khẩu qua sàn quốc tế: Doanh nghiệp Việt cần vượt rào cản nào?

Xuất khẩu qua sàn quốc tế: Doanh nghiệp Việt cần vượt rào cản nào?

Xuất khẩu qua sàn quốc tế mở rộng cơ hội cho hàng Việt, nhưng rào cản pháp lý, logistics và năng lực vận hành vẫn là thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt trong cạnh tranh bền vững.
Doanh nghiệp chuẩn bị gì để tận dụng EVFTA mở rộng xuất khẩu?

Doanh nghiệp chuẩn bị gì để tận dụng EVFTA mở rộng xuất khẩu?

Việt Nam và Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu chính thức ký kết Hiệp định Thương mại tự do (VEFTA) ngày 18/10/2026 được kỳ vọng mở ra cơ hội mới cho ngành thủy sản Việt Nam, không chỉ trong xuất khẩu sang các thị trường có thu nhập cao mà còn trong hợp tác về nguồn nguyên liệu, công nghệ chế biến và phát triển chuỗi cung ứng.