![]() |
| Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI. |
Rào cản tái chế, điểm nghẽn của chuỗi cung ứng xuất khẩu
Từ ngày 1/1/2026, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) bước vào giai đoạn thực thi chính thức. Với các mặt hàng như sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, điện và hydro, nhà nhập khẩu thuộc diện áp dụng phải kê khai lượng phát thải carbon hàm chứa trong hàng hóa và thực hiện nghĩa vụ chứng chỉ carbon. Điều này khiến dữ liệu phát thải trở thành yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí và sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu vào EU.
|
Cùng với yêu cầu giảm phát thải, Quy định về bao bì và chất thải bao bì (PPWR) của EU áp dụng từ tháng 8/2026, hướng tới mục tiêu toàn bộ bao bì có khả năng tái chế vào năm 2030, đồng thời đặt ra các mốc tăng tỷ lệ nhựa tái chế trong bao bì vào năm 2030 và 2040. Các tiêu chuẩn mới buộc doanh nghiệp xuất khẩu phải kiểm soát chặt hơn nguyên liệu đầu vào, quy trình sản xuất và khả năng chứng minh trách nhiệm môi trường.
Trong khi nhu cầu nguyên liệu tái chế ngày càng tăng nhiều dòng chất thải công nghiệp vẫn chưa thể quay lại chuỗi sản xuất. Một trong những vướng mắc là chưa có cơ chế định danh rõ ràng để xác định khi nào vật liệu sau tái chế đủ điều kiện trở thành sản phẩm, được lưu thông và giao dịch.
Chia sẻ tại Tọa đàm trực tuyến Gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy tái chế, tái sử dụng và tuần hoàn chất thải trong sản xuất công nghiệp để sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 2/11, ThS Nguyễn Thi, Giảng viên chính Bộ môn Pháp luật, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cho rằng: Việc thiếu quy định cụ thể khiến một số loại vật liệu dù đáp ứng yêu cầu kỹ thuật vẫn khó tham gia thị trường. “Không có mã HS khó có thể giao dịch, xuất khẩu”, ông nhấn mạnh. Theo ông Thi, cần xây dựng quy chuẩn cho từng loại vật liệu, xác định điều kiện an toàn đối với môi trường và sức khỏe trước khi công nhận là sản phẩm; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp đề xuất tiêu chuẩn từ thực tiễn sản xuất.
Vướng mắc về định danh và tiêu chuẩn còn ảnh hưởng đến khả năng chủ động nguồn cung nguyên liệu. Tại ngành thép, ông Lê Việt, Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Thép Miền Nam (VNSTEEL) cho biết, doanh nghiệp sử dụng công nghệ lò điện hồ quang EAF, với nguyên liệu chủ yếu là thép vụn, thép phế. Tuy nhiên, nguồn thu gom trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu, doanh nghiệp vẫn phải nhập khẩu từ Nhật Bản, Singapore, Australia và Mỹ.
Theo ông Việt, chuỗi thu gom, phân loại và cung ứng thép phế trong nước còn phân tán, chất lượng chưa được kiểm soát đồng bộ. Một số tiêu chuẩn về thép phế nhập khẩu và quản lý tạp chất cũng chưa phù hợp thông lệ quốc tế, làm tăng chi phí sản xuất. Điều này cho thấy, công nghệ tái chế tại nhà máy chưa đủ nếu thiếu hệ thống thu gom, phân loại, kiểm định và cung ứng nguyên liệu ổn định.
Ở ngành giấy, nguyên liệu tái chế đã trở thành đầu vào quan trọng của nhiều lĩnh vực xuất khẩu. Theo ông Lương Chí Hiếu, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển VPPA, kiêm Chánh văn phòng Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam, mỗi năm ngành giấy sử dụng gần 7 triệu tấn nguyên liệu tái chế, chủ yếu sản xuất giấy bao bì phục vụ các ngành dệt may, da giày, thủy sản và điện tử.
Dù vậy, ngành giấy vẫn phải nhập khẩu khoảng 50% nguyên liệu sản xuất giấy bao bì. Ông Hiếu cho biết, mức ký quỹ nhập khẩu phế liệu giấy hiện ở mức 15%, 18% hoặc 20% giá trị lô hàng, gây áp lực vốn cho doanh nghiệp. Ông đề xuất xem xét điều chỉnh mức ký quỹ phù hợp hơn, đồng thời có hướng dẫn cụ thể để tận dụng tro, xỉ phát sinh trong sản xuất giấy làm nguyên liệu cho các ngành khác, thay vì chủ yếu chuyển giao xử lý như chất thải công nghiệp.
Thực tế từ ngành thép và giấy cho thấy, tái chế không chỉ giúp giảm chất thải mà còn tạo nguồn nguyên liệu đầu vào, tăng tính chủ động và giảm phụ thuộc vào nguyên liệu sơ cấp. Tuy nhiên, để lợi thế này chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh xuất khẩu, doanh nghiệp cần tháo gỡ đồng thời các nút thắt về định danh, tiêu chuẩn chất lượng và tổ chức chuỗi cung ứng vật liệu thứ cấp.
Đánh thức nguồn nguyên liệu thứ cấp cho chuỗi xuất khẩu
Để đưa chất thải trở lại sản xuất, doanh nghiệp cần chuyển từ xử lý riêng lẻ sang tổ chức chuỗi liên kết, trong đó đầu ra của đơn vị này trở thành nguyên liệu đầu vào của đơn vị khác. Theo ThS. Trương Việt Trường, Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường Công nghiệp (Bộ Công Thương), việc rà soát quy trình, thúc đẩy sản xuất sạch hơn, giảm phát sinh chất thải và thiết kế sản phẩm dễ tái chế là những bước đi cần thiết. Thực tế tiêu thụ tro, xỉ, thạch cao từ các nhà máy nhiệt điện cho thấy, khi xác định được khả năng chế biến và thị trường đầu ra, doanh nghiệp có thể kết nối với các cơ sở xi măng, bê tông và vật liệu xây dựng.
| Cùng với yêu cầu giảm phát thải, Quy định về bao bì và chất thải bao bì (PPWR) của EU áp dụng từ tháng 8/2026, hướng tới mục tiêu toàn bộ bao bì có khả năng tái chế vào năm 2030, đồng thời đặt ra các mốc tăng tỷ lệ nhựa tái chế trong bao bì vào năm 2030 và 2040. Các tiêu chuẩn mới buộc doanh nghiệp xuất khẩu phải kiểm soát chặt hơn nguyên liệu đầu vào, quy trình sản xuất và khả năng chứng minh trách nhiệm môi trường. |
Với doanh nghiệp xuất khẩu, hiệu quả tái chế cần được chứng minh bằng dữ liệu về tỷ lệ nguyên liệu tái chế, mức tiết kiệm tài nguyên và lượng phát thải trên mỗi đơn vị sản phẩm. Ông Lê Việt đề xuất ứng dụng mã QR và công nghệ thông tin để truy xuất nguồn gốc, theo dõi quá trình thu gom, xử lý vật liệu, đồng thời bảo đảm dữ liệu minh bạch, tránh ghi nhận trùng lặp lợi ích môi trường. Theo ông, tín dụng xanh và ưu đãi thuế cũng cần gắn với kết quả giảm phát thải CO₂ trên mỗi tấn sản phẩm.
Chương trình phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam giai đoạn 2025-2030, được phê duyệt tại Quyết định số 1894/QĐ-TTg ngày 4/9/2025, đặt mục tiêu nâng cao năng lực sản xuất trong nước về thiết bị, dây chuyền và công nghệ môi trường, trong đó có công nghệ chế biến, tái chế chất thải. Tuy nhiên, để chính sách hỗ trợ đi vào thực tế, ông Lê Việt cho rằng cần có hành lang pháp lý rõ ràng để vật liệu tái chế được đưa trở lại sản xuất. Quy định về tỷ lệ sử dụng nguyên liệu tái chế cũng phải phù hợp với đặc thù công nghệ và khả năng cung ứng của từng ngành, tránh áp dụng cứng nhắc.
Ông Trương Việt Trường khuyến nghị doanh nghiệp chủ động tiếp cận nguồn tài chính xanh, đầu tư công nghệ phù hợp và tham gia các chuỗi cộng sinh công nghiệp. Trong khi đó, ông Nguyễn Thi nhấn mạnh cần phát triển thị trường tiêu thụ nguyên liệu thứ cấp, với tỷ lệ sử dụng được thiết kế theo từng nhóm sản phẩm và tiệm cận yêu cầu của các thị trường xuất khẩu lớn.
Như vậy, tái chế không chỉ là giải pháp xử lý chất thải mà còn là một phần trong chiến lược bảo đảm nguồn nguyên liệu, kiểm soát chi phí và đáp ứng tiêu chuẩn xanh. Khi vật liệu sau tái chế được định danh, kiểm soát chất lượng và truy xuất minh bạch, nguồn tài nguyên thứ cấp mới có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất, qua đó củng cố năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu.