![]() |
| Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI. |
Kết nối mạng lưới phân phối, đưa hàng Việt đến gần người mua
Theo Cục Hải quan, đến ngày 29/10/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt hơn 1.001 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu đạt khoảng 493,64 tỷ USD, tăng 27,2% so với cùng kỳ năm 2025; nhập khẩu đạt 507,66 tỷ USD, tăng 37,6% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này đưa hoạt động thương mại hàng hóa lên một cột mốc mới, trong bối cảnh kinh tế thế giới chịu tác động từ xung đột địa chính trị, biến động giá năng lượng và chi phí sản xuất.
|
Cùng với đà tăng trưởng về quy mô xuất nhập khẩu, việc nâng cao chất lượng tăng trưởng và gia tăng sự tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng trở nên cần thiết.
Vấn đề là làm thế nào để kết nối hiệu quả hơn giữa nguồn hàng trong nước, các nhà nhập khẩu, hệ thống bán lẻ nước ngoài và những kênh phân phối số. Với góc nhìn chuyên gia, TS Võ Thy Trang (Khoa Kinh tế, Học viện Tài chính) cho rằng, khi các mắt xích này hoạt động rời rạc, doanh nghiệp có thể tiếp cận được khách hàng nhưng vẫn gặp khó khăn trong khâu giao hàng, xử lý đơn hàng hoàn trả, chứng minh xuất xứ hoặc duy trì chất lượng cung ứng.
Vì vậy, theo chuyên gia, mở rộng không gian xuất khẩu cần được nhìn nhận như quá trình kết nối đồng bộ từ sản xuất, phân phối đến logistics và dịch vụ sau bán hàng, thay vì chỉ tập trung tìm kiếm thêm thị trường tiêu thụ.
Một trong những hướng mở rộng thị trường đang được chú ý là thương mại điện tử khám phá, hay còn gọi là TMĐT giải trí. Ông Nguyễn Tấn Phong, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam cho biết, với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đây là một kênh tiếp cận người tiêu dùng quốc tế mà không nhất thiết phải xây dựng ngay hệ thống cửa hàng hoặc mạng lưới đại lý ở nước ngoài. “Thông qua nội dung trực quan, người bán có thể giới thiệu cách sử dụng, quy trình sản xuất, đặc điểm sản phẩm và câu chuyện thương hiệu đến nhóm khách hàng chưa từng biết đến hàng Việt”, ông Phong cho biết.
Theo ông Nguyễn Tấn Phong, dư địa để doanh nghiệp Việt tận dụng TMĐT nhằm tiếp cận người tiêu dùng quốc tế còn rất lớn. Trong bối cảnh đó, TMĐT khám phá đã và đang mang tới thêm một phương thức tiếp cận thị trường đáng chú ý: doanh nghiệp có thể chủ động tạo ra nhu cầu, kể câu chuyện thương hiệu và tiếp cận những nhóm khách hàng mới thông qua nội dung.
Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc nhiều vào ngành hàng, mức độ nhận diện thương hiệu, chi phí quảng bá, khả năng giao hàng và yêu cầu pháp lý tại nước nhập khẩu. Cách một thương hiệu có thể bước ra thị trường quốc tế đã và đang thay đổi. TMĐT nói chung đã thay đổi một phần cấu trúc của xuất khẩu truyền thống. TMĐT khám phá đang tạo ra thêm một bước thay đổi. Vì thế, điều doanh nghiệp hướng tới không chỉ là mở gian hàng trên nền tảng quốc tế, mà còn xây dựng được mạng lưới đối tác đủ năng lực xử lý đơn hàng, giao nhận, thanh toán, đổi trả và chăm sóc khách hàng.
Logistics và thể chế quyết định khả năng duy trì đơn hàng
Cùng với việc mở rộng kênh phân phối, năng lực logistics là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của hàng Việt.
Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050 (được ban hành tại Quyết định số 2229/QĐ-TTg ngày 9/10/2025) đặt mục tiêu tăng trưởng ngành logistics bình quân 12-15% mỗi năm trong giai đoạn 2025-2035; giảm chi phí logistics xuống tương đương 12-15% tổng sản phẩm trong nước. Chiến lược cũng hướng tới phát triển các trung tâm logistics hiện đại, ứng dụng công nghệ số và tăng kết nối giữa sản xuất, lưu thông hàng hóa trong nước với thị trường quốc tế.
Các mục tiêu này cho thấy logistics cần được phát triển gắn với nhu cầu thực tế của từng ngành hàng. Với nông sản, thực phẩm, chuỗi lạnh và khả năng bảo quản có ý nghĩa quan trọng. Với hàng tiêu dùng bán trực tuyến, doanh nghiệp cần dịch vụ gom hàng, kho dùng chung, hoàn tất đơn hàng và xử lý hàng trả lại. Với các mặt hàng công nghiệp, khả năng đáp ứng tiến độ giao hàng, truy xuất nguồn gốc và duy trì chất lượng đồng đều là những yêu cầu đáng chú ý.
| Theo Cục Hải quan, đến ngày 29/10/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt hơn 1.001 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu đạt khoảng 493,64 tỷ USD, tăng 27,2% so với cùng kỳ năm 2025; nhập khẩu đạt 507,66 tỷ USD, tăng 37,6% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này đưa hoạt động thương mại hàng hóa lên một cột mốc mới, trong bối cảnh kinh tế thế giới chịu tác động từ xung đột địa chính trị, biến động giá năng lượng và chi phí sản xuất. |
Theo chiến lược, việc kết nối các trung tâm logistics với vùng sản xuất, cửa khẩu, cảng biển, cảng hàng không và các phương thức vận tải cần được triển khai đồng bộ.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, khả năng sử dụng chung hạ tầng kho vận và dịch vụ giao nhận có thể giúp giảm gánh nặng đầu tư ban đầu, đồng thời tạo điều kiện tiếp cận các đơn hàng quốc tế có quy mô phù hợp.
Bên cạnh logistics, sự rõ ràng của thể chế cũng ảnh hưởng đến khả năng mở rộng xuất khẩu. Theo ông Nguyễn Tấn Phong, các giao dịch xuyên biên giới có thể phát sinh nhiều tình huống như hàng gửi trực tiếp đến người mua, hàng tập kết tại kho ở nước ngoài, hàng bị trả lại hoặc chứng từ điện tử. Do đó, hướng dẫn thực hiện thống nhất về thủ tục, trách nhiệm của người bán và nền tảng, chứng từ xuất xứ, thuế và nghĩa vụ liên quan sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong quá trình kinh doanh.
Đặc biệt, doanh nghiệp cũng cần phân biệt giữa việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm và việc chứng minh hàng hóa đáp ứng quy tắc xuất xứ ưu đãi theo từng hiệp định thương mại tự do. “Hai yêu cầu này có liên quan nhưng không đồng nhất. Doanh nghiệp cần nắm rõ quy định của thị trường nhập khẩu để tránh nhầm lẫn khi lập hồ sơ và thực hiện thủ tục xuất khẩu”, ông Phong lưu ý.
Mở rộng không gian xuất khẩu từ năng lực doanh nghiệp
Việc đưa hàng Việt vào mạng lưới phân phối nước ngoài không phải là định hướng mới. Theo Bộ Công Thương, Đề án thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia trực tiếp các mạng phân phối nước ngoài đến năm 2030 đã đặt mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường, nâng cao năng lực cung ứng, phát triển thương hiệu và tham gia TMĐT xuyên biên giới.
Thực tế triển khai cho thấy, hướng tiếp cận trực tiếp đang được mở rộng. Tháng 8/2026, Bộ Công Thương phối hợp với phía tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, tổ chức tuần giới thiệu, quảng bá sản phẩm xuất khẩu Việt Nam tại Thành phố Côn Minh, nhằm kết nối doanh nghiệp với nhà nhập khẩu và hệ thống phân phối tại khu vực Tây Nam Trung Quốc.
Từ các định hướng này, yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp là lựa chọn kênh phân phối dựa trên đặc điểm sản phẩm, năng lực cung ứng và điều kiện của từng thị trường, thay vì chạy theo một mô hình bán hàng duy nhất. “Doanh nghiệp cần chuẩn hóa chất lượng, hồ sơ sản phẩm, nhãn hàng hóa, thông tin xuất xứ và khả năng đáp ứng các yêu cầu về môi trường, an toàn sản phẩm của thị trường nhập khẩu”, TS Võ Thy Trang nhấn mạnh.
Theo TS Võ Thy Trang, doanh nghiệp đầu mối và đơn vị cung ứng dịch vụ, vai trò kết nối có ý nghĩa đặc biệt với các cơ sở sản xuất nhỏ, hợp tác xã và doanh nghiệp địa phương chưa có kinh nghiệm xuất khẩu. Khi có thể tập hợp nguồn cung, chia sẻ thông tin tiêu chuẩn và phối hợp dịch vụ logistics, các đơn vị này có điều kiện tiếp cận những kênh phân phối vốn đòi hỏi quy mô, chất lượng và tiến độ cung ứng ổn định.
Cột mốc hơn 1.000 tỷ USD kim ngạch xuất nhập khẩu vì thế là cơ sở để nhìn nhận rõ hơn yêu cầu phát triển các kênh đưa hàng Việt ra thị trường thế giới. Sự kết hợp giữa mạng lưới phân phối truyền thống, TMĐT xuyên biên giới và hệ thống logistics phù hợp là những hướng đi cần tiếp tục được triển khai, trên cơ sở nhu cầu thị trường và năng lực thực tế của doanh nghiệp Việt Nam.