Ngày 24/2/2026, Thuế tỉnh Lào Cai nhận được đề nghị Công ty Cổ phần Vật tư Nông sản (Công văn số 527/LCA-QLDN1) về quyết toán thuế tài nguyên.
Theo đó, Thuế tỉnh Lào Cai có ý kiến như sau: Việc quyết toán phải tuân thủ khoản 3 Điều 9 Thông tư số 152/2015/TT-BTC ngày 2/10/2015 của Bộ Tài chính. Người nộp thuế phải lập bảng kê kèm theo tờ khai quyết toán năm, trong đó kê khai chi tiết sản lượng khai thác theo từng mỏ tương ứng với giấy phép được cấp.
Liên quan đến giá tính thuế, cơ quan Thuế dẫn quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật thuế Tài nguyên số 45/2009/QH12: “Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng”.
Điều 6 Thông tư số 152/2015/TT-BTC quy định, giá này không được thấp hơn mức do UBND cấp tỉnh ban hành.
Trường hợp doanh nghiệp có giá bán thực tế thấp hơn giá do UBND cấp tỉnh quy định, Thuế tỉnh Lào Cai hướng dẫn: phải tính thuế theo giá do UBND cấp tỉnh quy định. Đây là nguyên tắc áp dụng thống nhất khi xác định nghĩa vụ thuế tài nguyên.
Đối với trường hợp phát sinh chi phí vận chuyển, nếu chi phí này và giá bán được ghi riêng trên hóa đơn, thì giá tính thuế tài nguyên là giá bán sản phẩm không bao gồm chi phí vận chuyển.
Về sản lượng tính thuế, theo quy định, sản lượng tài nguyên tính thuế là tổng sản lượng tài nguyên khai thác trong năm, không phân biệt tồn kho hay đang trong quá trình chế biến hoặc vận chuyển.
Trường hợp sản phẩm bán ra gồm cả tài nguyên và sản phẩm công nghiệp, doanh nghiệp phải quy đổi ra sản lượng tài nguyên khai thác theo định mức sử dụng do mình xác định.
Cũng theo hướng dẫn, giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm tài nguyên được xác định bằng cách lấy tổng doanh thu bán tài nguyên chia cho tổng sản lượng tài nguyên bán ra tương ứng trong năm.
Từ các quy định nêu trên, Thuế tỉnh Lào Cai khẳng định, việc quyết toán thuế tài nguyên phải căn cứ đầy đủ vào sản lượng khai thác, giá bán bình quân và nguyên tắc giá tính thuế không thấp hơn mức do UBND cấp tỉnh quy định.