![]() |
| Doanh nghiệp trả thu nhập phải lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc và khoản tiền lương, tiền công đã trả cho người lao động. Ảnh: Văn Học. |
Theo đó, căn cứ Luật thuế TNCN số 109/2025/QH15 ngày 10/12/2025, cơ quan Thuế cho biết, tại Điều 6, Chính phủ quy định kỳ tính thuế theo năm đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú; kỳ tính thuế theo từng lần phát sinh đối với các khoản thu nhập khác của cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú.
Đồng thời, Chính phủ quy định về thời điểm xác định thu nhập tính thuế, quyết toán, hoàn thuế cũng như trách nhiệm khấu trừ, khai thay, nộp thay cho người nộp thuế.
Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập tính thuế là tổng thu nhập chịu thuế mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế, sau khi trừ các khoản đóng bảo hiểm và các khoản giảm trừ theo quy định.
Đáng chú ý, thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.
Luật thuế TNCN số 109/2025/QH15 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026. Riêng các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.
Thuế tỉnh Phú Thọ dẫn Nghị định số 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật thuế TNCN.
Theo điểm h khoản 3 Điều 8 Nghị định này, một số khoản phụ cấp, trợ cấp và thu nhập khác không tính vào thu nhập chịu thuế. Trong đó có trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật.
Trường hợp tổ chức, doanh nghiệp có quy định cụ thể tại quy chế tài chính, quy chế nội bộ, hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động về mức trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cao hơn mức quy định của pháp luật thì phần chi trả thực tế vượt mức này cũng không tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động.
Đối với tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ, Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế TNCN đối với tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc phù hợp với quy định về điều kiện và thời gian theo pháp luật về lao động.
Doanh nghiệp trả thu nhập phải lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc và khoản tiền lương, tiền công đã trả cho người lao động. Bảng kê được lưu tại doanh nghiệp và xuất trình khi có yêu cầu của cơ quan Thuế.
Trường hợp không lập bảng kê riêng, doanh nghiệp có trách nhiệm chứng minh khoản tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ thông qua bảng lương, bảng chấm công, hợp đồng lao động và các tài liệu hợp pháp khác.
Tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép cũng được miễn thuế TNCN nếu phù hợp với quy định về điều kiện và mức tiền lương, tiền công theo pháp luật. Nếu khoản tiền này vượt mức quy định của pháp luật thì phần vượt mức được tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.
Về khấu trừ thuế, khoản 2 Điều 50 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng, bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động, mà mức chi trả thu nhập từ 5 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả.
Nếu mức chi trả thu nhập dưới 5 triệu đồng/lần, tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.
Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế, cá nhân có thể làm cam kết gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế TNCN.
Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về nội dung cam kết. Nếu phát hiện có gian lận, cá nhân sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan.
Căn cứ vào cam kết của cá nhân, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Tuy nhiên, kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế theo mẫu quy định và nộp cho cơ quan Thuế.
Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên, tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần. Quy định này cũng áp dụng trong trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ 3 tháng trở lên tại nhiều nơi.
Nghị định số 253/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.