![]() |
| Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI. |
Hàng giả không chỉ là giả nhãn hiệu
Quy mô giao thương thực phẩm ngày càng lớn khiến yêu cầu an toàn không còn dừng ở nhà máy hay thị trường trong nước. Trong 8 tháng năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 49,3 tỷ USD, nhập khẩu 35,06 tỷ USD. Cùng với dòng hàng hóa là hàng triệu lô hàng và lượng dữ liệu cần được kiểm soát xuyên suốt chuỗi cung ứng.
|
Sau khi tiếp thu ý kiến của các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân, dự thảo Luật ATTP (sửa đổi) tiếp tục được Bộ Y tế công bố để lấy ý kiến rộng rãi.
Đáng chú ý, với thực phẩm nhập khẩu, dự thảo đề xuất ba mức kiểm tra gồm kiểm tra chặt, kiểm tra thông thường và kiểm tra giảm, dựa trên mức độ rủi ro và lịch sử tuân thủ của doanh nghiệp. Theo TS. Chu Quốc Thịnh, Cục trưởng Cục Luật ATTP (Bộ Y tế), cách tiếp cận này nhằm tập trung nguồn lực vào những nhóm hàng, lô hàng có nguy cơ cao.
Ở chiều xuất khẩu, doanh nghiệp không chỉ phải đáp ứng quy định của Việt Nam mà còn phải phù hợp yêu cầu của thị trường nhập khẩu, đồng thời có khả năng chứng minh nguồn gốc, chất lượng và hành trình của từng lô hàng. Khi đó, khả năng truy xuất và minh chứng dữ liệu trở thành một phần của năng lực cạnh tranh.
Tại dự thảo, cơ quan soạn thảo mở rộng cách tiếp cận đối với thực phẩm giả. Hàng giả không chỉ là giả nhãn hiệu, bao bì, mà còn có thể là sản phẩm không đúng bản chất, công dụng, thành phần hoặc hàm lượng như đã công bố. Trọng tâm quản lý vì thế chuyển từ nhận diện hình thức sang kiểm soát chất lượng thực chất.
Đặc biệt, dự thảo đưa vào phạm vi kiểm soát các hành vi làm giả, sửa chữa, xóa bỏ, che giấu hoặc tạo lập sai lệch dữ liệu về hồ sơ công bố, kết quả thử nghiệm, mã số, mã vạch, truy xuất nguồn gốc, hồ sơ lô hàng, bảo quản, vận chuyển… nhằm hợp thức hóa sản phẩm không bảo đảm an toàn.
Điều này cho thấy một rủi ro mới trong môi trường số: thực phẩm giả không chỉ có thể được tạo ra từ dây chuyền sản xuất, mà còn được hợp thức hóa bằng dữ liệu giả. Vì vậy, kiểm soát thực phẩm trong tương lai không chỉ là xác định hàng thật hay hàng giả, mà còn phải xác thực dữ liệu có đúng hay không, được tạo ra khi nào và có phản ánh đúng hành trình của sản phẩm hay không.
Luật phải đi trước một bước
Số hóa đang trở thành một trụ cột mới trong quản lý an toàn thực phẩm. Theo cơ quan soạn thảo, dự thảo Luật Luật ATTP (sửa đổi) định hướng xây dựng cơ sở dữ liệu về vòng đời sản phẩm, cơ sở sản xuất, kết quả kiểm tra, thử nghiệm và các sự cố an toàn thực phẩm; đồng thời kết nối, chia sẻ dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn để phân tích nguy cơ, truy xuất, cảnh báo.
Tuy nhiên, có dữ liệu hoặc quét được mã QR chưa đồng nghĩa với có một hệ thống truy xuất nguồn gốc. Ông Lê Xuân Trường, Chánh Văn phòng Hội Mã số Mã vạch Việt Nam cho rằng, hệ thống chỉ tạo ra giá trị khi đối tượng được định danh nhất quán; các sự kiện cần theo dõi được ghi nhận tại nơi và thời điểm phát sinh; dữ liệu gắn đúng với sản phẩm hoặc lô hàng, có chủ thể chịu trách nhiệm và có thể kết nối, đối chiếu giữa các công đoạn.
“Mã QR chủ yếu là phương tiện mang dữ liệu hoặc dẫn tới dữ liệu. Nếu dữ liệu bị tạo lập sau sự kiện, bị sửa đổi trái phép hoặc được bổ sung hồi tố mà không có cơ chế kiểm soát và lưu dấu lịch sử thay đổi, việc quét mã chỉ cho biết thông tin mà hệ thống đang hiển thị; tự thân kết quả quét không đủ để kết luận sản phẩm an toàn, đúng nguồn gốc hay là hàng thật”, ông Trường lưu ý.
Yêu cầu này thể hiện rõ nhất khi có cảnh báo hoặc thu hồi. Hệ thống cần hỗ trợ truy ngược tới nguyên liệu, nhà cung cấp và công đoạn liên quan; đồng thời truy xuôi để xác định đúng mã hàng, lô hoặc mẻ, các địa điểm hay đối tác đã nhận hàng và trạng thái hiện tại. Mục tiêu là khoanh vùng nhanh, thu hồi đúng phạm vi, tránh bỏ sót sản phẩm có rủi ro và hạn chế thu hồi dàn trải.
Ông Trường nhấn mạnh: Truy xuất nguồn gốc là công cụ hỗ trợ quản lý chất lượng, quản lý rủi ro và thu hồi sản phẩm. Truy xuất không tự tạo ra chất lượng và không thay thế các hệ thống quản lý ATTP như HACCP, ISO, hoạt động kiểm nghiệm hoặc kết luận của cơ quan có thẩm quyền. Giá trị của truy xuất nằm ở khả năng liên kết dữ liệu, xác định nguyên nhân và khoanh vùng chính xác sản phẩm cần cảnh báo hoặc thu hồi khi có sự cố.
Thực tế cho thấy áp lực quản lý ngày càng lớn. Đến hết ngày 30/8/2026, Hà Nội đã kiểm tra 4.049 vụ, xử lý 4.006 vụ; riêng lĩnh vực ATTP xử lý 822 vụ, phạt 11,2 tỷ đồng và buộc tiêu hủy hàng hóa trị giá 10,9 tỷ đồng. Những con số này cho thấy hậu kiểm vẫn cần thiết, nhưng không thể chỉ chờ đến khi hàng hóa lưu thông mới phát hiện rủi ro.
Theo ThS. Phạm Thị Lý, Giám đốc Trung tâm Doanh nghiệp Hội nhập và Phát triển, nhà sáng lập nền tảng CheckVN, khi chuỗi cung ứng ngày càng dài, quản lý hiệu quả phải trả lời được ba câu hỏi: rủi ro nằm ở đâu, dữ liệu có đáng tin cậy không và khi xảy ra sự cố có thể lần ngược đến đâu.
“Một hệ thống quản lý dựa trên dữ liệu chỉ hoạt động hiệu quả khi dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và cập nhật kịp thời; khi trách nhiệm của từng chủ thể trong chuỗi được xác định rõ; đồng thời hệ thống kiểm tra đủ năng lực phân tích dữ liệu thay vì chỉ tiếp nhận và lưu trữ dữ liệu”, bà Lý nhấn mạnh.
Từ góc độ doanh nghiệp, điều này đồng nghĩa an toàn thực phẩm ngày càng gắn với quản trị dữ liệu, quản trị chuỗi cung ứng và năng lực thu hồi. Dữ liệu không còn là phần việc phía sau sản phẩm, mà trở thành một bộ phận của năng lực bảo đảm an toàn cho sản phẩm.
Từ cửa khẩu, nhà máy đến khâu phân phối; từ mã số lô hàng, dữ liệu vận chuyển đến hồ sơ công bố và thu hồi, dự thảo Luật Luật ATTP (sửa đổi) đang hướng tới một chuỗi kiểm soát thống nhất hơn. Trọng tâm không chỉ là phát hiện hàng giả, hàng vi phạm sau khi đã ra thị trường, mà là nhận diện nguy cơ sớm, kiểm soát đúng điểm rủi ro và có thể lần theo toàn bộ hành trình của sản phẩm khi xảy ra sự cố.