Chủ nhật 08/11/2026 00:31
Thời tiết: Hà Nội 25°C
Đà Nẵng 26°C
Cà Mau 25°C
Hải Phòng 24°C
TP Hồ Chí Minh 28°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách / Chính sách và cuộc sống
aa

Đẩy mạnh trao đổi chứng từ điện tử trong khuôn khổ ASEAN

Nụ Bùi
Việc trao đổi thông tin, chứng từ điện tử giữa Việt Nam với các nước, vùng lãnh thổ được Nghị định số 336/2026/NĐ-CP đặt trong khuôn khổ các thỏa thuận, điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, tham gia với Cổng thông tin một cửa quốc gia là đầu mối kết nối, tiếp nhận và trao đổi dữ liệu.
việc trao đổi dữ liệu xuyên biên giới được đặt trên cơ sở các cam kết quốc tế, thay vì hình thành một cơ chế trao đổi độc lập. Ảnh: Cục Hải quan
Việc trao đổi chứng từ điện tử trong khuôn khổ ASEAN được đặt trên cơ sở các cam kết quốc tế. Ảnh: Cục Hải quan

Gắn với cam kết quốc tế

Nghị định số 336/2026/NĐ-CP dành Chương V quy định việc thực hiện các thỏa thuận, điều ước quốc tế về trao đổi thông tin, chứng từ điện tử để thực hiện thủ tục hành chính theo Cơ chế một cửa quốc gia. Các quy định này tập trung vào cơ sở thực hiện trao đổi, giá trị pháp lý của thông tin, chứng từ điện tử và trách nhiệm của các cơ quan quản lý.

Theo Điều 44 Nghị định số 336/2026/NĐ-CP, Cổng thông tin một cửa quốc gia là đầu mối tiếp nhận, trao đổi thông tin, chứng từ điện tử giữa Việt Nam với các nước, vùng lãnh thổ có ký kết thỏa thuận, điều ước quốc tế về trao đổi thông tin, chứng từ điện tử với Việt Nam.

Như vậy, việc trao đổi dữ liệu xuyên biên giới được đặt trên cơ sở các cam kết quốc tế, thay vì hình thành một cơ chế trao đổi độc lập. Cổng thông tin một cửa quốc gia thực hiện vai trò đầu mối kết nối, còn nội dung, phạm vi trao đổi và việc sử dụng dữ liệu phải phù hợp với thỏa thuận, điều ước quốc tế tương ứng.

Đại diện Ban Pháp chế (Cục Hải quan) cho rằng, việc trao đổi dữ liệu với nước ngoài phải được đặt trong phạm vi của thỏa thuận hoặc điều ước quốc tế tương ứng. Cổng thông tin là đầu mối trao đổi, còn nội dung, phạm vi sử dụng và giá trị của dữ liệu phải tuân thủ cam kết pháp lý giữa các bên.

Đây là điểm có ý nghĩa đối với quá trình số hóa thủ tục hành chính xuyên biên giới. Bởi khả năng truyền nhận một chứng từ điện tử mới chỉ giải quyết yêu cầu về mặt kỹ thuật; để chứng từ được sử dụng trong quá trình giải quyết thủ tục còn phải đáp ứng các điều kiện pháp lý.

Điều 45 của Nghị định số 336/2026/NĐ-CP quy định cụ thể về giá trị pháp lý của thông tin và chứng từ điện tử được trao đổi theo thỏa thuận, điều ước quốc tế. Theo đó, thông tin, chứng từ điện tử được trao đổi giữa cơ quan nhà nước Việt Nam với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài được công nhận giá trị pháp lý khi đáp ứng các điều kiện theo quy định.

Trong đó, thông tin, chứng từ điện tử phải đáp ứng điều kiện được quy định tại thỏa thuận quốc tế, điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, tham gia; được công nhận giá trị pháp lý như chứng từ giấy tại thỏa thuận, điều ước quốc tế và đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 14 Nghị định số 336/2026/NĐ-CP.

Điều này cho thấy Nghị định số 336/2026/NĐ-CP phân định rõ trao đổi dữ liệu và công nhận giá trị pháp lý của dữ liệu. Một chứng từ được truyền nhận qua hệ thống không đồng nghĩa với việc chứng từ đó đương nhiên có giá trị pháp lý trong mọi trường hợp. Giá trị pháp lý phải được xác lập trên cơ sở các điều kiện đã được quy định.

Cách tiếp cận này cũng đặt ra yêu cầu đồng bộ giữa kết nối kỹ thuật và khuôn khổ pháp lý. Dữ liệu chỉ thực sự phát huy giá trị trong cải cách thủ tục khi cơ quan tiếp nhận có căn cứ pháp lý để sử dụng dữ liệu đó trong quy trình xử lý.

Liên thông trong ASEAN

Đối với Cơ chế một cửa ASEAN, Điều 46 Nghị định số 336/2026/NĐ-CP quy định việc trao đổi thông tin, chứng từ điện tử thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia phải phù hợp với các thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Theo quy định này, thông tin, dữ liệu được trao đổi và chia sẻ thông qua môi trường Cơ chế một cửa ASEAN được sử dụng để thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh theo các thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Dữ liệu cũng được chia sẻ với các bộ quản lý ngành, lĩnh vực theo thẩm quyền.

Chương V Nghị định số 336/2026/NĐ-CP không chỉ đặt vấn đề kết nối hệ thống, mà đồng thời xác lập cơ sở cho công nhận và sử dụng thông tin, chứng từ điện tử. Đây là nền tảng để Cơ chế một cửa ASEAN tiếp tục được triển khai theo hướng liên thông dữ liệu, hỗ trợ thực hiện thủ tục hải quan và từng bước đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục trong hoạt động xuất nhập khẩu, quá cảnh.

Điểm đáng chú ý là dữ liệu sau khi được trao đổi không chỉ dừng ở khâu truyền nhận giữa các hệ thống. Nghị định đã quy định việc sử dụng và chia sẻ dữ liệu trong quá trình thực hiện thủ tục, qua đó gắn trao đổi điện tử với hoạt động xử lý hồ sơ.

Theo Luật sư Phan Hoài Nam, Giám đốc Công ty TNHH tư vấn W&A, giá trị của trao đổi dữ liệu xuyên biên giới không chỉ nằm ở khả năng kết nối. Điều quan trọng là dữ liệu được trao đổi phải có cơ sở để được cơ quan có thẩm quyền sử dụng trong thủ tục tương ứng, và cơ sở đó nằm trong các cam kết quốc tế.

Khoản 3 Điều 46 Nghị định số 336/2026/NĐ-CP quy định thông tin và chứng từ được truyền, trao đổi theo Cơ chế một cửa ASEAN được cơ quan Hải quan sử dụng để thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh; đồng thời được chia sẻ với các cơ quan quản lý nhà nước thuộc các bộ, ngành theo thẩm quyền.

Như vậy, cơ chế được thiết kế theo chuỗi trao đổi - chia sẻ - sử dụng dữ liệu. Đối với Hải quan, thông tin, chứng từ điện tử từ phía đối tác có thể được đưa vào quá trình thực hiện thủ tục hải quan theo khuôn khổ cam kết quốc tế và quy định pháp luật.

Để bảo đảm cơ chế vận hành thống nhất, Điều 47 Nghị định số 336/2026/NĐ-CP phân định trách nhiệm giữa Bộ Tài chính và các bộ quản lý ngành, lĩnh vực.

Bộ Tài chính có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ quản lý ngành, lĩnh vực xây dựng và triển khai Cổng thông tin một cửa quốc gia để thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN và trao đổi thông tin, chứng từ điện tử với nước ngoài có ký kết thỏa thuận, điều ước quốc tế về trao đổi thông tin, chứng từ điện tử với Việt Nam.

Đồng thời, Bộ Tài chính có trách nhiệm đề xuất việc công nhận lẫn nhau đối với thông tin và chứng từ điện tử được trao đổi với các quốc gia, vùng lãnh thổ có ký kết thỏa thuận, điều ước quốc tế với Việt Nam. Mục tiêu là đơn giản hóa hồ sơ, chứng từ và thủ tục hành chính đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh và người, phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh.

Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính trong trao đổi thông tin, chứng từ điện tử thuộc lĩnh vực quản lý trên Cổng thông tin một cửa quốc gia.

Sự phân định này cho thấy Cơ chế một cửa ASEAN được tổ chức theo hướng một đầu mối kết nối, các cơ quan phối hợp xử lý theo chức năng, thẩm quyền. Đây cũng là cơ sở để việc trao đổi dữ liệu điện tử không tách rời quá trình giải quyết thủ tục hành chính.

Với doanh nghiệp, ý nghĩa của cơ chế nằm ở khả năng giảm yêu cầu về hồ sơ, chứng từ khi dữ liệu đã được trao đổi và được công nhận theo các cam kết tương ứng. Với cơ quan quản lý, việc hình thành dòng dữ liệu điện tử xuyên biên giới tạo điều kiện khai thác thông tin phục vụ xử lý thủ tục theo phạm vi được pháp luật quy định.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp: Góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm

Xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp: Góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm

Bộ Tài chính vừa công khai lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết về xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp cho người nộp thuế trạng thái 03, 06. Các chuyên gia cho rằng, chính sách này góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm và hỗ trợ làm sạch dữ liệu trong quản lý thuế.
Hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế: Chuyển mạnh sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro

Hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế: Chuyển mạnh sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thuế, kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi gian lận. Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2026–2030 đặt ra định hướng là chuyển mạnh từ phương thức kiểm tra truyền thống sang kiểm tra trên nền tảng công nghệ số, khai thác dữ liệu tập trung và quản lý rủi ro.
Hướng dẫn xác định sản lượng và giá tính thuế tài nguyên đối với quặng chì, kẽm

Hướng dẫn xác định sản lượng và giá tính thuế tài nguyên đối với quặng chì, kẽm

Cục Thuế vừa có Công văn số 7943/CT-QLNT hướng dẫn về chính sách thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác, chế biến quặng chì, kẽm của Chi nhánh Công ty TNHH TMDV Hoàng Nam tại tỉnh Thái Nguyên. Trong đó, cơ quan thuế lưu ý việc xác định sản lượng và giá tính thuế phải căn cứ vào đặc điểm tài nguyên khai thác, quy trình chế biến và thực tế kinh doanh của doanh nghiệp.
Cơ chế đặc thù xử lý mã số thuế tồn đọng có thể giảm tới 90% nghĩa vụ tài chính

Cơ chế đặc thù xử lý mã số thuế tồn đọng có thể giảm tới 90% nghĩa vụ tài chính

Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, các đề xuất của Bộ Tài chính nếu được thực hiện không chỉ góp phần tháo gỡ gánh nặng tài chính, mà còn tạo động lực xử lý mã số thuế tồn đọng, mở ra cơ hội cho người nộp thuế trở lại thị trường.
Vì sao nên giữ ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng?

Vì sao nên giữ ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng?

Bộ Tài chính đề nghị giữ nguyên mức thanh toán không dùng tiền mặt khi xác định chi phí được trừ tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) từ 5 triệu đồng lên nhằm bảo đảm tính thống nhất của pháp luật và phù hợp với chủ trương đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt.
Thống nhất thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm

Thống nhất thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm

Cục Thuế vừa ban hành Công văn số 7978/CT-NVT yêu cầu Thuế các tỉnh, thành phố chấn chỉnh tình trạng tiếp nhận, xử lý hồ sơ chưa thống nhất, đồng thời hướng dẫn cụ thể thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm.
Bài 4: Củng cố niềm tin vào môi trường kinh doanh

Bài 4: Củng cố niềm tin vào môi trường kinh doanh

Từ thực tiễn triển khai Chiến dịch làm sạch mã số thuế, đến các cơ chế đặc thù giải quyết các vướng mắc đang được Bộ Tài chính đề xuất đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện phương thức quản lý theo vòng đời người nộp thuế, nâng cao tính minh bạch của dữ liệu và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, đáng tin cậy hơn.
Gỡ vướng mã số thuế tồn đọng mang lại lợi ích kép cho nền kinh tế

Gỡ vướng mã số thuế tồn đọng mang lại lợi ích kép cho nền kinh tế

Nhiều ý kiến góp ý từ các tổ chức đại diện cộng đồng doanh nghiệp và tư vấn thuế đánh giá cao sự chủ động của Bộ Tài chính trong đề xuất cơ chế đặc thù tháo gỡ những tồn đọng về mã số thuế. Các ý kiến cho rằng, các đề xuất này không chỉ góp phần giảm gánh nặng tuân thủ, cải thiện môi trường kinh doanh mà còn nâng cao tính minh bạch, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Giảm thuế trong hai năm liên tiếp: Chính sách sát thực tiễn, doanh nghiệp có thêm động lực phát triển

Giảm thuế trong hai năm liên tiếp: Chính sách sát thực tiễn, doanh nghiệp có thêm động lực phát triển

Trong bối cảnh doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nhiều áp lực về chi phí đầu vào, thị trường tiêu thụ và khả năng tiếp cận nguồn vốn, chính sách hỗ trợ về thuế tiếp tục là một trong những giải pháp quan trọng khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Đặc biệt, chính sách giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong hai năm 2026 và 2027 được kỳ vọng góp phần giảm áp lực chi phí, cải thiện dòng tiền, tạo thêm nguồn lực để doanh nghiệp nhỏ và vừa duy trì hoạt động, mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Bài 3: Tháo gỡ rào cản chính sách trong xử lý mã số thuế tồn đọng

Bài 3: Tháo gỡ rào cản chính sách trong xử lý mã số thuế tồn đọng

Trước những vướng mắc kéo dài trong quá trình xử lý người nộp thuế trạng thái 03, 06, Bộ Tài chính đã xây dựng hai dự thảo Nghị quyết thuộc thẩm quyền Quốc hội và Chính phủ. Các đề xuất tập trung xử lý nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp, nghĩa vụ hồ sơ khai thuế và giảm mức phạt đối với một số hành vi chậm nộp hồ sơ, nhằm tạo điều kiện để người nộp thuế hoàn tất thủ tục khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Tháo gỡ "nút thắt" cho hàng triệu mã số thuế tồn đọng: Cục Thuế nói gì trước nhiều đề xuất đột phá?

Tháo gỡ "nút thắt" cho hàng triệu mã số thuế tồn đọng: Cục Thuế nói gì trước nhiều đề xuất đột phá?

Trước thực trạng hàng triệu mã số thuế rơi vào trạng thái ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục đóng mã số thuế (MST), tạo nên gánh nặng pháp lý kéo dài nhiều năm, Cục Thuế đã có buổi đối thoại trực tiếp, cởi mở với chuyên gia luật doanh nghiệp Trần Vũ Hải và một số người dân để lắng nghe hàng loạt đề xuất tháo gỡ mang tính đột phá.
Hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính thuế

Hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính thuế

Cục Thuế vừa có Công văn số 8232/CT-PC hướng dẫn Thuế tỉnh Đồng Tháp tháo gỡ vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chậm nộp hoặc không nộp Thông báo doanh thu và thông báo số tài khoản ngân hàng, số hiệu ví điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Hộ kinh doanh cần lưu ý gì để không mất quyền lợi giảm 30% thuế thu nhập cá nhân?

Hộ kinh doanh cần lưu ý gì để không mất quyền lợi giảm 30% thuế thu nhập cá nhân?

Chính sách giảm 30% thuế thu nhập trong hai năm 2026 và 2027 mang lại lợi ích đáng kể cho hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu không quá 10 tỷ đồng/năm. Tuy nhiên, chuyên gia cảnh báo, nếu không kiểm soát chặt doanh thu, hóa đơn, chứng từ và chi phí được trừ, người kinh doanh có thể phải nộp bổ sung số thuế đã được giảm hoặc phát sinh nghĩa vụ thuế lớn hơn dự kiến.
Điều kiện khấu trừ thuế khi thanh toán qua bên thứ ba

Điều kiện khấu trừ thuế khi thanh toán qua bên thứ ba

Doanh nghiệp thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ thông qua bên thứ ba phải quy định cụ thể việc ủy quyền hoặc chỉ định thanh toán trong hợp đồng bằng văn bản. Bên thứ ba nhận hoặc thực hiện thanh toán phải là tổ chức, cá nhân đang hoạt động hợp pháp.
Đơn giản hóa bộ tiêu chí khảo sát mức độ hài lòng của người nộp thuế năm 2026

Đơn giản hóa bộ tiêu chí khảo sát mức độ hài lòng của người nộp thuế năm 2026

Cục Thuế vừa có Công văn số 8044/CT-VP triển khai khảo sát đo lường sự hài lòng của người nộp thuế (NNT) đối với sự phục vụ của cơ quan Thuế năm 2026. Hoạt động khảo sát được thực hiện từ ngày 25/10 đến hết ngày 31/12/2026, nhằm đánh giá mức độ hài lòng của người nộp thuế (NNT) đối với toàn ngành Thuế và từng cơ quan thuế.