Thứ bảy 07/11/2026 00:17
Thời tiết: Hà Nội 25°C
Đà Nẵng 26°C
Cà Mau 25°C
Hải Phòng 25°C
TP Hồ Chí Minh 28°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách / Chính sách và cuộc sống
aa

Hoàn thiện quy định về chứng từ điện tử trong thủ tục hải quan

Nụ Bùi
Nghị định số 336/2026/NĐ-CP chuẩn hóa chứng từ điện tử trong Cơ chế một cửa quốc gia, đồng thời đặt yêu cầu về tính hợp pháp, toàn vẹn và khả năng truy xuất khi chứng từ được chuyển đổi giữa bản điện tử và bản giấy.
Nghị định số 336/2026/NĐ-CP xác định chứng từ là một bộ phận của hồ sơ hành chính thực hiện theo Cơ chế một cửa quốc gia. Ảnh: Cục Hải quan
Nghị định số 336/2026/NĐ-CP xác định chứng từ điện tử là một bộ phận của hồ sơ hành chính thực hiện theo Cơ chế một cửa quốc gia. Ảnh: Cục Hải quan

Chứng từ đáp ứng yêu cầu pháp lý

Nghị định số 336/2026/NĐ-CP xác định chứng từ điện tử là một bộ phận của hồ sơ hành chính thực hiện theo Cơ chế một cửa quốc gia, gồm chứng từ điện tử và chứng từ giấy. Đáng chú ý, chứng từ điện tử không chỉ là những chứng từ được tạo lập trực tiếp trên môi trường số mà còn bao gồm chứng từ giấy được chuyển đổi sang dạng điện tử.

Theo Điều 14, chứng từ điện tử sử dụng để thực hiện thủ tục hành chính qua Cổng thông tin một cửa quốc gia phải được lập theo tiêu chí, định dạng và mẫu chứng từ do bộ quản lý ngành, lĩnh vực quy định. Trường hợp pháp luật chuyên ngành yêu cầu sử dụng chữ ký số, chứng từ điện tử phải được ký số theo quy định về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số; đồng thời phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu của pháp luật chuyên ngành về chứng từ.

Quy định này làm rõ một vấn đề cốt lõi, điện tử hóa chứng từ phải đi cùng chuẩn hóa dữ liệu và xác thực pháp lý. Một tệp được tạo ra từ việc quét tài liệu giấy chưa đương nhiên trở thành chứng từ điện tử đáp ứng yêu cầu của thủ tục. Giá trị sử dụng của chứng từ còn phụ thuộc vào việc chứng từ đó có đúng tiêu chí, đúng định dạng, đúng mẫu và đáp ứng yêu cầu về xác thực theo quy định hay không.

Yêu cầu này gắn với toàn bộ quy trình xử lý trên Cổng thông tin một cửa quốc gia. Theo Điều 13, người khai gửi thông tin, thực hiện thủ tục hành chính đến Cổng; Cổng tiếp nhận, cấp mã số hồ sơ và chuyển thông tin đến hệ thống xử lý chuyên ngành. Cơ quan xử lý tiếp nhận, xử lý và phản hồi trạng thái, kết quả xử lý đến Cổng để phản hồi cho người khai.

Trong quy trình đó, chữ ký số không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật mà còn là một thành tố xác thực. Điều 12 quy định chứng từ điện tử được sử dụng để thực hiện thủ tục hành chính qua Cổng phải được ký số theo quy định.

Theo đại diện Cục Hải quan, chứng từ điện tử được đặt trong mối liên hệ giữa người khai - chứng từ - chữ ký số - Cổng thông tin - hệ thống xử lý chuyên ngành. Đây là nền tảng để xác định chủ thể thực hiện, bảo đảm trách nhiệm đối với nội dung đã khai và tạo cơ sở cho việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ trên môi trường điện tử.

Điểm này cũng phù hợp với trách nhiệm của người khai được quy định trong Nghị định số 336/2026/NĐ-CP. Theo đó, người khai phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu xử lý thủ tục và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung đã khai, chứng từ đã nộp, xuất trình và sự thống nhất về nội dung giữa các chứng từ.

Kiểm soát chuyển đổi chứng từ

Nếu Điều 14 đặt ra điều kiện để chứng từ điện tử được sử dụng trong thủ tục thì Điều 15 tập trung giải quyết một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn hơn: khi chứng từ thay đổi hình thức, làm thế nào để vẫn giữ nguyên giá trị và khả năng kiểm chứng.

Nghị định số 336/2026/NĐ-CP quy định việc tạo lập, chuyển đổi chứng từ điện tử từ chứng từ giấy và ngược lại phải tuân thủ pháp luật về giao dịch điện tử, pháp luật chuyên ngành và các điều kiện được quy định tại Điều 15.

Đối với chứng từ giấy chuyển sang chứng từ điện tử, yêu cầu đầu tiên là bản điện tử phải phản ánh toàn vẹn nội dung của chứng từ giấy. Đồng thời, chứng từ điện tử chuyển đổi phải có chữ ký số của người khai theo quy định.

Nghị định số 336/2026/NĐ-CP quy định việc tạo lập, chuyển đổi chứng từ điện tử từ chứng từ giấy. Ảnh: Cục Hải quan
Nghị định số 336/2026/NĐ-CP quy định việc tạo lập, chuyển đổi chứng từ điện tử từ chứng từ giấy. Ảnh: Cục Hải quan

Theo cơ quan Hải quan, việc chuyển đổi không tạo ra một nội dung mới mà phải bảo toàn nội dung của chứng từ gốc. Cùng với đó, yêu cầu về chữ ký số tạo thêm căn cứ xác định chủ thể thực hiện việc chuyển đổi và đưa chứng từ vào quy trình điện tử.

Ở chiều ngược lại, khi chứng từ điện tử được chuyển thành chứng từ giấy, bản giấy cũng phải phản ánh toàn vẹn nội dung của chứng từ điện tử. Đặc biệt, bản giấy phải có dấu hiệu nhận biết để xác định được chứng từ này được chuyển đổi từ chứng từ điện tử và phục vụ tra cứu thông tin về chứng từ điện tử trên Cổng thông tin một cửa quốc gia.

Đây là điểm làm cho quy định về chuyển đổi có chiều sâu hơn so với yêu cầu đơn thuần về sao chép nội dung. Nghị định đồng thời đặt ra hai yêu cầu: bảo đảm nội dung không bị thay đổi và bảo đảm có thể truy ngược từ bản chuyển đổi về nguồn dữ liệu ban đầu.

Theo Luật sư Hoàng Văn Hướng, Giảng viên Học viện Tư pháp, Trưởng Văn phòng Luật sư Hoàng Hưng - Đoàn Luật sư TP. Hà Nội, điểm quan trọng của chứng từ chuyển đổi là phải bảo đảm mối liên hệ giữa bản điện tử và bản giấy. Nếu không xác định được nguồn gốc và tính toàn vẹn của nội dung, việc đối chiếu trong quá trình kiểm tra sẽ gặp khó khăn.

Với cách thiết kế này, bản giấy và bản điện tử không được xem là hai hồ sơ độc lập. Khi chuyển đổi, mối liên hệ giữa hai dạng chứng từ phải được duy trì để phục vụ kiểm tra, đối chiếu và xác định nguồn gốc khi cần thiết.

Nghị định số 336/2026/NĐ-CP còn quy định trách nhiệm lưu trữ đối với toàn bộ quá trình. Người khai có trách nhiệm lưu trữ chứng từ điện tử và chứng từ giấy theo quy định; đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia phải lưu trữ, sao lưu và bảo đảm an ninh thông tin, an ninh mạng, an ninh dữ liệu đối với các giao dịch trên Cổng; cơ quan xử lý có trách nhiệm lưu trữ và bảo đảm an ninh đối với thông tin, dữ liệu gửi đến Cổng.

Trách nhiệm chuẩn hóa cũng được phân định cho các bộ quản lý ngành, lĩnh vực. Các bộ có trách nhiệm quy định tiêu chí, định dạng, biểu mẫu chứng từ điện tử thuộc phạm vi quản lý và tổ chức hệ thống xử lý chuyên ngành để tiếp nhận, xử lý dữ liệu từ Cổng thông tin một cửa quốc gia.

Đặc biệt, các Phụ lục III và IV của Nghị định số 336/2026/NĐ-CP đã quy định thống nhất các nhóm chỉ tiêu thông tin của hồ sơ và kết quả xử lý trên Cổng, bao gồm thông tin về hồ sơ, tổ chức/cá nhân, hàng hóa, vận tải và kết quả giải quyết.

Từ đó, chứng từ điện tử được đặt trong một vòng đời thống nhất: tạo lập, ký số, gửi, tiếp nhận, xử lý, phản hồi, lưu trữ và khi cần thiết chuyển đổi giữa hai dạng chứng từ. Ở mỗi khâu, yêu cầu về tính hợp pháp, tính toàn vẹn và khả năng truy xuất được duy trì.

Điểm đáng chú ý của Nghị định số 336/2026/NĐ-CP không chỉ nằm ở việc thay thế chứng từ giấy bằng chứng từ điện tử, mà ở việc thiết lập cơ chế để chứng từ có thể được xác thực và sử dụng xuyên suốt quy trình xử lý trên môi trường số. Đây là nền tảng quan trọng để Cơ chế một cửa quốc gia chuyển từ tiếp nhận hồ sơ điện tử sang xử lý hồ sơ dựa trên dữ liệu, liên thông giữa Cổng thông tin và các hệ thống chuyên ngành.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế: Chuyển mạnh sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro

Hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế: Chuyển mạnh sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thuế, kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi gian lận. Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2026–2030 đặt ra định hướng là chuyển mạnh từ phương thức kiểm tra truyền thống sang kiểm tra trên nền tảng công nghệ số, khai thác dữ liệu tập trung và quản lý rủi ro.
Hướng dẫn xác định sản lượng và giá tính thuế tài nguyên đối với quặng chì, kẽm

Hướng dẫn xác định sản lượng và giá tính thuế tài nguyên đối với quặng chì, kẽm

Cục Thuế vừa có Công văn số 7943/CT-QLNT hướng dẫn về chính sách thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác, chế biến quặng chì, kẽm của Chi nhánh Công ty TNHH TMDV Hoàng Nam tại tỉnh Thái Nguyên. Trong đó, cơ quan thuế lưu ý việc xác định sản lượng và giá tính thuế phải căn cứ vào đặc điểm tài nguyên khai thác, quy trình chế biến và thực tế kinh doanh của doanh nghiệp.
Cơ chế đặc thù xử lý mã số thuế tồn đọng có thể giảm tới 90% nghĩa vụ tài chính

Cơ chế đặc thù xử lý mã số thuế tồn đọng có thể giảm tới 90% nghĩa vụ tài chính

Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, các đề xuất của Bộ Tài chính nếu được thực hiện không chỉ góp phần tháo gỡ gánh nặng tài chính, mà còn tạo động lực xử lý mã số thuế tồn đọng, mở ra cơ hội cho người nộp thuế trở lại thị trường.
Vì sao nên giữ ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng?

Vì sao nên giữ ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng?

Bộ Tài chính đề nghị giữ nguyên mức thanh toán không dùng tiền mặt khi xác định chi phí được trừ tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) từ 5 triệu đồng lên nhằm bảo đảm tính thống nhất của pháp luật và phù hợp với chủ trương đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt.
Thống nhất thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm

Thống nhất thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm

Cục Thuế vừa ban hành Công văn số 7978/CT-NVT yêu cầu Thuế các tỉnh, thành phố chấn chỉnh tình trạng tiếp nhận, xử lý hồ sơ chưa thống nhất, đồng thời hướng dẫn cụ thể thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm.
Bài 4: Củng cố niềm tin vào môi trường kinh doanh

Bài 4: Củng cố niềm tin vào môi trường kinh doanh

Từ thực tiễn triển khai Chiến dịch làm sạch mã số thuế, đến các cơ chế đặc thù giải quyết các vướng mắc đang được Bộ Tài chính đề xuất đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện phương thức quản lý theo vòng đời người nộp thuế, nâng cao tính minh bạch của dữ liệu và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, đáng tin cậy hơn.
Gỡ vướng mã số thuế tồn đọng mang lại lợi ích kép cho nền kinh tế

Gỡ vướng mã số thuế tồn đọng mang lại lợi ích kép cho nền kinh tế

Nhiều ý kiến góp ý từ các tổ chức đại diện cộng đồng doanh nghiệp và tư vấn thuế đánh giá cao sự chủ động của Bộ Tài chính trong đề xuất cơ chế đặc thù tháo gỡ những tồn đọng về mã số thuế. Các ý kiến cho rằng, các đề xuất này không chỉ góp phần giảm gánh nặng tuân thủ, cải thiện môi trường kinh doanh mà còn nâng cao tính minh bạch, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Giảm thuế trong hai năm liên tiếp: Chính sách sát thực tiễn, doanh nghiệp có thêm động lực phát triển

Giảm thuế trong hai năm liên tiếp: Chính sách sát thực tiễn, doanh nghiệp có thêm động lực phát triển

Trong bối cảnh doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nhiều áp lực về chi phí đầu vào, thị trường tiêu thụ và khả năng tiếp cận nguồn vốn, chính sách hỗ trợ về thuế tiếp tục là một trong những giải pháp quan trọng khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Đặc biệt, chính sách giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong hai năm 2026 và 2027 được kỳ vọng góp phần giảm áp lực chi phí, cải thiện dòng tiền, tạo thêm nguồn lực để doanh nghiệp nhỏ và vừa duy trì hoạt động, mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Bài 3: Tháo gỡ rào cản chính sách trong xử lý mã số thuế tồn đọng

Bài 3: Tháo gỡ rào cản chính sách trong xử lý mã số thuế tồn đọng

Trước những vướng mắc kéo dài trong quá trình xử lý người nộp thuế trạng thái 03, 06, Bộ Tài chính đã xây dựng hai dự thảo Nghị quyết thuộc thẩm quyền Quốc hội và Chính phủ. Các đề xuất tập trung xử lý nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp, nghĩa vụ hồ sơ khai thuế và giảm mức phạt đối với một số hành vi chậm nộp hồ sơ, nhằm tạo điều kiện để người nộp thuế hoàn tất thủ tục khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Tháo gỡ "nút thắt" cho hàng triệu mã số thuế tồn đọng: Cục Thuế nói gì trước nhiều đề xuất đột phá?

Tháo gỡ "nút thắt" cho hàng triệu mã số thuế tồn đọng: Cục Thuế nói gì trước nhiều đề xuất đột phá?

Trước thực trạng hàng triệu mã số thuế rơi vào trạng thái ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục đóng mã số thuế (MST), tạo nên gánh nặng pháp lý kéo dài nhiều năm, Cục Thuế đã có buổi đối thoại trực tiếp, cởi mở với chuyên gia luật doanh nghiệp Trần Vũ Hải và một số người dân để lắng nghe hàng loạt đề xuất tháo gỡ mang tính đột phá.
Hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính thuế

Hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính thuế

Cục Thuế vừa có Công văn số 8232/CT-PC hướng dẫn Thuế tỉnh Đồng Tháp tháo gỡ vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chậm nộp hoặc không nộp Thông báo doanh thu và thông báo số tài khoản ngân hàng, số hiệu ví điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Hộ kinh doanh cần lưu ý gì để không mất quyền lợi giảm 30% thuế thu nhập cá nhân?

Hộ kinh doanh cần lưu ý gì để không mất quyền lợi giảm 30% thuế thu nhập cá nhân?

Chính sách giảm 30% thuế thu nhập trong hai năm 2026 và 2027 mang lại lợi ích đáng kể cho hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu không quá 10 tỷ đồng/năm. Tuy nhiên, chuyên gia cảnh báo, nếu không kiểm soát chặt doanh thu, hóa đơn, chứng từ và chi phí được trừ, người kinh doanh có thể phải nộp bổ sung số thuế đã được giảm hoặc phát sinh nghĩa vụ thuế lớn hơn dự kiến.
Điều kiện khấu trừ thuế khi thanh toán qua bên thứ ba

Điều kiện khấu trừ thuế khi thanh toán qua bên thứ ba

Doanh nghiệp thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ thông qua bên thứ ba phải quy định cụ thể việc ủy quyền hoặc chỉ định thanh toán trong hợp đồng bằng văn bản. Bên thứ ba nhận hoặc thực hiện thanh toán phải là tổ chức, cá nhân đang hoạt động hợp pháp.
Đơn giản hóa bộ tiêu chí khảo sát mức độ hài lòng của người nộp thuế năm 2026

Đơn giản hóa bộ tiêu chí khảo sát mức độ hài lòng của người nộp thuế năm 2026

Cục Thuế vừa có Công văn số 8044/CT-VP triển khai khảo sát đo lường sự hài lòng của người nộp thuế (NNT) đối với sự phục vụ của cơ quan Thuế năm 2026. Hoạt động khảo sát được thực hiện từ ngày 25/10 đến hết ngày 31/12/2026, nhằm đánh giá mức độ hài lòng của người nộp thuế (NNT) đối với toàn ngành Thuế và từng cơ quan thuế.
Giảm giấy tờ trong thủ tục xác nhận xe thiết kế chở tiền

Giảm giấy tờ trong thủ tục xác nhận xe thiết kế chở tiền

Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp sẽ được thay thế bằng dữ liệu khai thác từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trong thủ tục xác nhận về đạt tiêu chuẩn xe thiết kế chở tiền thuộc Nhóm 98.23.