Thứ bảy 07/11/2026 23:42
Thời tiết: Hà Nội 25°C
Đà Nẵng 26°C
Cà Mau 25°C
Hải Phòng 25°C
TP Hồ Chí Minh 28°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách / Chính sách và cuộc sống
aa

Chuẩn hóa quy trình và siết chặt kỷ luật xuất nhập khẩu tại chỗ

Nụ Bùi
Thủ tục xuất nhập khẩu tại chỗ vừa trải qua những điều chỉnh mang tính bước ngoặt nhằm minh bạch hóa hoạt động giao dịch nội địa có yếu tố nước ngoài. Những quy định mới không chỉ áp đặt thời hạn nghiêm ngặt cho tờ khai đối ứng mà còn xác lập điều kiện giao hàng và sử dụng hàng hóa khắt khe hơn, đồng thời mở ra cơ chế ưu tiên cho các doanh nghiệp có chuẩn tuân thủ cao.
Khai bổ sung đối với tờ khai không có sai sót sau khi hoàn thành thủ tục Từ nỗ lực giảm tải thủ tục đến mục tiêu quản trị số hiện đại Định hình lại thủ tục hải quan và giao dịch của doanh nghiệp chế xuất

Thời hạn đối ứng tờ khai và chế tài hủy tự động

Điểm cốt lõi của sự thay đổi này là việc gắn kết chặt chẽ trách nhiệm giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu thông qua hệ thống dữ liệu điện tử. Việc kiểm soát dựa trên dòng thời gian 15 ngày buộc doanh nghiệp phải chuyên nghiệp hóa quy trình phối hợp nội bộ và với đối tác, nhằm tránh các rủi ro về thuế cũng như việc bị hủy tờ khai hệ thống.

Theo quy định mới tại Điều 86 Thông tư số 121/2025/TT-BTC, thời hạn để người nhập khẩu tại chỗ hoàn thành thủ tục hải quan được ấn định là 15 ngày kể từ ngày tờ khai xuất khẩu tương ứng thông quan hoặc giải phóng hàng. Đây là cột mốc pháp lý quan trọng nhất mà cả bên bán và bên mua đều phải giám sát chặt chẽ.

Nếu quá thời hạn 15 ngày nêu trên mà người nhập khẩu vẫn chưa đăng ký tờ khai nhập khẩu đối ứng, cơ quan Hải quan sẽ thực hiện hủy tờ khai xuất khẩu tại chỗ theo quy định tại Điều 22 Thông tư số 121/2025/TT-BTC. Quy trình này cũng được áp dụng tương tự cho các giao dịch hàng hóa giữa doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp chế xuất hoặc giữa các doanh nghiệp chế xuất với nhau.

Công chức Hải quan kiểm tra hàng hóa nhập khẩu. Ảnh: HN
Công chức hải quan kiểm tra hàng hóa nhập khẩu. Ảnh: HN

Việc bị hủy tờ khai không chỉ gây gián đoạn chuỗi cung ứng mà còn khiến doanh nghiệp mất quyền lợi về miễn thuế, hoàn thuế và ảnh hưởng xấu đến hồ sơ năng lực trên hệ thống quản lý rủi ro của ngành Hải quan.

Bên cạnh đó, trách nhiệm giao nhận hàng hóa hiện nay tuân theo nguyên tắc: Chỉ giao hàng khi có tờ khai nhập khẩu. Người xuất khẩu chỉ được phép bàn giao thực tế hàng hóa sau khi người nhập khẩu đã đăng ký tờ khai nhập khẩu tại chỗ tương ứng trên hệ thống.

Song song đó, người nhập khẩu chỉ được quyền đưa hàng hóa vào sản xuất hoặc tiêu thụ sau khi hàng hóa đó đã được thông quan hoặc giải phóng hàng. Quy định này chấm dứt hoàn toàn tình trạng giao hàng trước, hợp thức hóa chứng từ sau vốn tiềm ẩn nhiều sai phạm trong quản lý định mức.

Hồ sơ miễn thuế và yêu cầu văn bản chỉ định giao hàng

Đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ phục vụ loại hình gia công hoặc sản xuất xuất khẩu, hồ sơ hải quan đã được bổ sung các chứng từ then chốt để đảm bảo tính minh bạch của giao dịch.

Theo sửa đổi tại Điều 16 Thông tư số 121/2025/TT-BTC, người xuất khẩu tại chỗ bắt buộc phải cung cấp văn bản chỉ định giao hàng tại Việt Nam của đối tác nước ngoài. Chứng từ này đóng vai trò xác thực hàng hóa tuy lu chuyển trong nước nhưng bản chất là một giao dịch thương mại quốc tế.

Ngoài ra, doanh nghiệp phải nộp kèm thông báo hoàn thành thủ tục hải quan nhập khẩu tại chỗ (theo Mẫu số 22). Việc đồng bộ các chứng từ này giúp cơ quan hải quan có đủ căn cứ để thực hiện chính sách miễn thuế nhập khẩu cho nguyên liệu, đảm bảo hàng hóa được sử dụng đúng mục đích miễn thuế đã đăng ký. Trong thời hạn 15 ngày từ khi thông quan hàng xuất, người xuất khẩu cũng phải có trách nhiệm thông báo về thông tin tờ khai nhập đối ứng cho cơ quan hải quan quản lý trực tiếp.

Cơ chế đặc thù dành cho nhóm doanh nghiệp ưu tiên

Nhằm tạo động lực cho sự phát triển, một hành lang pháp lý thông thoáng hơn đã được dành riêng cho các doanh nghiệp ưu tiên và các đối tác liên quan. Theo đó, nếu có hoạt động mua bán, gia công, thuê mượn diễn ra thường xuyên trong một thời hạn nhất định theo cùng một đơn hàng, các bên được phép áp dụng cơ chế “giao nhận hàng trước, khai hải quan sau”.

Với mô hình này, doanh nghiệp có thể thực hiện việc giao nhận hàng hóa lần đầu sau khi đã thông báo cho cơ quan hải quan quản lý. Việc đăng ký tờ khai hải quan chính thức sẽ được thực hiện định kỳ trong thời hạn tối đa không quá 30 ngày kể từ ngày giao nhận thực tế. Một ưu đãi đáng kể khác là doanh nghiệp ưu tiên được quyền đưa hàng vào sản xuất ngay sau khi giao nhận mà không cần chờ tờ khai thông quan.

Cơ quan Hải quan sẽ thực hiện kiểm tra các chứng từ giao nhận (như hóa đơn, phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ) thay vì kiểm tra thực tế hàng hóa.

Do đó, doanh nghiệp cần lưu giữ hồ sơ một cách khoa học và chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính chính xác của các đợt giao nhận lẻ. Những cải cách này từ Thông tư số 121/2025/TT-BTC không chỉ siết chặt quản lý đối với các đơn vị chưa tuân thủ mà còn mở rộng cửa cho các doanh nghiệp uy tín tối ưu hóa dòng hàng và thời gian sản xuất.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp: Góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm

Xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp: Góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm

Bộ Tài chính vừa công khai lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết về xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp cho người nộp thuế trạng thái 03, 06. Các chuyên gia cho rằng, chính sách này góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm và hỗ trợ làm sạch dữ liệu trong quản lý thuế.
Hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế: Chuyển mạnh sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro

Hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế: Chuyển mạnh sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thuế, kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi gian lận. Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2026–2030 đặt ra định hướng là chuyển mạnh từ phương thức kiểm tra truyền thống sang kiểm tra trên nền tảng công nghệ số, khai thác dữ liệu tập trung và quản lý rủi ro.
Hướng dẫn xác định sản lượng và giá tính thuế tài nguyên đối với quặng chì, kẽm

Hướng dẫn xác định sản lượng và giá tính thuế tài nguyên đối với quặng chì, kẽm

Cục Thuế vừa có Công văn số 7943/CT-QLNT hướng dẫn về chính sách thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác, chế biến quặng chì, kẽm của Chi nhánh Công ty TNHH TMDV Hoàng Nam tại tỉnh Thái Nguyên. Trong đó, cơ quan thuế lưu ý việc xác định sản lượng và giá tính thuế phải căn cứ vào đặc điểm tài nguyên khai thác, quy trình chế biến và thực tế kinh doanh của doanh nghiệp.
Cơ chế đặc thù xử lý mã số thuế tồn đọng có thể giảm tới 90% nghĩa vụ tài chính

Cơ chế đặc thù xử lý mã số thuế tồn đọng có thể giảm tới 90% nghĩa vụ tài chính

Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, các đề xuất của Bộ Tài chính nếu được thực hiện không chỉ góp phần tháo gỡ gánh nặng tài chính, mà còn tạo động lực xử lý mã số thuế tồn đọng, mở ra cơ hội cho người nộp thuế trở lại thị trường.
Vì sao nên giữ ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng?

Vì sao nên giữ ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng?

Bộ Tài chính đề nghị giữ nguyên mức thanh toán không dùng tiền mặt khi xác định chi phí được trừ tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) từ 5 triệu đồng lên nhằm bảo đảm tính thống nhất của pháp luật và phù hợp với chủ trương đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt.
Thống nhất thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm

Thống nhất thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm

Cục Thuế vừa ban hành Công văn số 7978/CT-NVT yêu cầu Thuế các tỉnh, thành phố chấn chỉnh tình trạng tiếp nhận, xử lý hồ sơ chưa thống nhất, đồng thời hướng dẫn cụ thể thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm.
Bài 4: Củng cố niềm tin vào môi trường kinh doanh

Bài 4: Củng cố niềm tin vào môi trường kinh doanh

Từ thực tiễn triển khai Chiến dịch làm sạch mã số thuế, đến các cơ chế đặc thù giải quyết các vướng mắc đang được Bộ Tài chính đề xuất đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện phương thức quản lý theo vòng đời người nộp thuế, nâng cao tính minh bạch của dữ liệu và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, đáng tin cậy hơn.
Gỡ vướng mã số thuế tồn đọng mang lại lợi ích kép cho nền kinh tế

Gỡ vướng mã số thuế tồn đọng mang lại lợi ích kép cho nền kinh tế

Nhiều ý kiến góp ý từ các tổ chức đại diện cộng đồng doanh nghiệp và tư vấn thuế đánh giá cao sự chủ động của Bộ Tài chính trong đề xuất cơ chế đặc thù tháo gỡ những tồn đọng về mã số thuế. Các ý kiến cho rằng, các đề xuất này không chỉ góp phần giảm gánh nặng tuân thủ, cải thiện môi trường kinh doanh mà còn nâng cao tính minh bạch, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Giảm thuế trong hai năm liên tiếp: Chính sách sát thực tiễn, doanh nghiệp có thêm động lực phát triển

Giảm thuế trong hai năm liên tiếp: Chính sách sát thực tiễn, doanh nghiệp có thêm động lực phát triển

Trong bối cảnh doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nhiều áp lực về chi phí đầu vào, thị trường tiêu thụ và khả năng tiếp cận nguồn vốn, chính sách hỗ trợ về thuế tiếp tục là một trong những giải pháp quan trọng khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Đặc biệt, chính sách giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong hai năm 2026 và 2027 được kỳ vọng góp phần giảm áp lực chi phí, cải thiện dòng tiền, tạo thêm nguồn lực để doanh nghiệp nhỏ và vừa duy trì hoạt động, mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Bài 3: Tháo gỡ rào cản chính sách trong xử lý mã số thuế tồn đọng

Bài 3: Tháo gỡ rào cản chính sách trong xử lý mã số thuế tồn đọng

Trước những vướng mắc kéo dài trong quá trình xử lý người nộp thuế trạng thái 03, 06, Bộ Tài chính đã xây dựng hai dự thảo Nghị quyết thuộc thẩm quyền Quốc hội và Chính phủ. Các đề xuất tập trung xử lý nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp, nghĩa vụ hồ sơ khai thuế và giảm mức phạt đối với một số hành vi chậm nộp hồ sơ, nhằm tạo điều kiện để người nộp thuế hoàn tất thủ tục khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Tháo gỡ "nút thắt" cho hàng triệu mã số thuế tồn đọng: Cục Thuế nói gì trước nhiều đề xuất đột phá?

Tháo gỡ "nút thắt" cho hàng triệu mã số thuế tồn đọng: Cục Thuế nói gì trước nhiều đề xuất đột phá?

Trước thực trạng hàng triệu mã số thuế rơi vào trạng thái ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục đóng mã số thuế (MST), tạo nên gánh nặng pháp lý kéo dài nhiều năm, Cục Thuế đã có buổi đối thoại trực tiếp, cởi mở với chuyên gia luật doanh nghiệp Trần Vũ Hải và một số người dân để lắng nghe hàng loạt đề xuất tháo gỡ mang tính đột phá.
Hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính thuế

Hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính thuế

Cục Thuế vừa có Công văn số 8232/CT-PC hướng dẫn Thuế tỉnh Đồng Tháp tháo gỡ vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chậm nộp hoặc không nộp Thông báo doanh thu và thông báo số tài khoản ngân hàng, số hiệu ví điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Hộ kinh doanh cần lưu ý gì để không mất quyền lợi giảm 30% thuế thu nhập cá nhân?

Hộ kinh doanh cần lưu ý gì để không mất quyền lợi giảm 30% thuế thu nhập cá nhân?

Chính sách giảm 30% thuế thu nhập trong hai năm 2026 và 2027 mang lại lợi ích đáng kể cho hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu không quá 10 tỷ đồng/năm. Tuy nhiên, chuyên gia cảnh báo, nếu không kiểm soát chặt doanh thu, hóa đơn, chứng từ và chi phí được trừ, người kinh doanh có thể phải nộp bổ sung số thuế đã được giảm hoặc phát sinh nghĩa vụ thuế lớn hơn dự kiến.
Điều kiện khấu trừ thuế khi thanh toán qua bên thứ ba

Điều kiện khấu trừ thuế khi thanh toán qua bên thứ ba

Doanh nghiệp thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ thông qua bên thứ ba phải quy định cụ thể việc ủy quyền hoặc chỉ định thanh toán trong hợp đồng bằng văn bản. Bên thứ ba nhận hoặc thực hiện thanh toán phải là tổ chức, cá nhân đang hoạt động hợp pháp.
Đơn giản hóa bộ tiêu chí khảo sát mức độ hài lòng của người nộp thuế năm 2026

Đơn giản hóa bộ tiêu chí khảo sát mức độ hài lòng của người nộp thuế năm 2026

Cục Thuế vừa có Công văn số 8044/CT-VP triển khai khảo sát đo lường sự hài lòng của người nộp thuế (NNT) đối với sự phục vụ của cơ quan Thuế năm 2026. Hoạt động khảo sát được thực hiện từ ngày 25/10 đến hết ngày 31/12/2026, nhằm đánh giá mức độ hài lòng của người nộp thuế (NNT) đối với toàn ngành Thuế và từng cơ quan thuế.