![]() |
| Doanh nghiệp nước ngoài tìm hiểu tôm xuất khẩu của Việt Nam tại Triển lãm quốc tế thủy sản tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh tháng 8/2026. Ảnh: Thu Hòa |
Cá và thị trường châu Á dẫn dắt tăng trưởng
Theo bà Lê Hằng, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu thủy sản tháng 10/2026 ước đạt 1,315 tỷ USD, tăng 13,5% so với cùng kỳ, đưa kim ngạch 10 tháng lên 10,459 tỷ USD, tăng 12,1%.
Động lực tăng trưởng trong tháng chủ yếu đến từ nhóm cá. Xuất khẩu cá các loại khác ước đạt 309 triệu USD, tăng 55%, tương đương tăng thêm gần 110 triệu USD, đóng góp khoảng 70% phần kim ngạch tăng thêm của toàn ngành. Cá tra đạt hơn 249 triệu USD, tăng 14,9%; cá ngừ tăng 13,4%; mực, bạch tuộc tăng 14,8%.
Trong khi đó, xuất khẩu tôm đạt gần 474 triệu USD, giảm 4,9%, riêng tôm chân trắng giảm 8,3%, còn gần 307 triệu USD. Lũy kế 10 tháng, tôm chân trắng đạt 2,62 tỷ USD, chỉ tăng 4%. Tôm hùm xanh đạt gần 915 triệu USD, tăng 31%, đóng góp hơn 216 triệu USD, tương đương khoảng 62% phần tăng thêm của toàn nhóm tôm. Điều này cho thấy tăng trưởng 9% của xuất khẩu tôm đang phụ thuộc đáng kể vào tôm hùm, trong khi mặt hàng chủ lực là tôm chân trắng tăng chậm.
Diễn biến này phù hợp với tình hình tiêu thụ tôm quốc tế. Trong 8 tháng, lượng nhập khẩu của Mỹ giảm 0,7%, EU giảm 2,3%, trong khi Trung Quốc tăng 25,5%. Cùng kỳ, lượng xuất khẩu của Ecuador tăng tới 19,8%.
Theo bà Lê Hằng, nhu cầu chưa phục hồi đồng đều khiến tôm Việt Nam khó trông chờ vào một đợt tăng giá chung của thị trường để cải thiện xuất khẩu trong những tháng cuối năm.
Ở chiều tích cực, cá tra có triển vọng thuận lợi hơn. Kim ngạch xuất khẩu 10 tháng tiến sát 2 tỷ USD, tăng 11%. Giá cá tuyết Đại Tây Dương duy trì ở mức cao do nguồn cung hạn chế, trong khi cá minh thái cũng chịu sức ép về giá nguyên liệu. Khoảng cách giá giữa cá khai thác và cá nuôi tạo thêm cơ hội cho cá tra trong phân khúc cá thịt trắng có giá vừa phải.
Về thị trường, Trung Quốc - Hồng Kông tiếp tục là động lực lớn nhất khi đạt 2,62 tỷ USD trong 10 tháng, tăng 30,3%, đóng góp khoảng 54% phần kim ngạch tăng thêm của toàn ngành. ASEAN đạt 722 triệu USD, tăng 22,9%. Hai thị trường này đóng góp thêm gần 745 triệu USD, chiếm khoảng 2/3 mức tăng xuất khẩu thủy sản.
Thị trường EU và Nhật Bản cũng cải thiện trong tháng 10, lần lượt tăng 22,1% và 6,7%, đưa mức tăng lũy kế lên 1,1% và 2,8%. Tuy nhiên, kim ngạch tăng thêm của hai thị trường trong 10 tháng chỉ khoảng 49 triệu USD.
Đáng chú ý, xuất khẩu sang Mỹ tiếp tục suy giảm. Tháng 10, kim ngạch giảm 11,8%, còn gần 200 triệu USD, kéo kết quả 10 tháng xuống 1,63 tỷ USD, giảm 1,2%. Đây cũng là điểm nghẽn đối với khả năng phục hồi xuất khẩu tôm của Việt Nam.
Nỗ lực giữ thị trường xuất khẩu
Một trong những yếu tố được doanh nghiệp quan tâm là kết quả rà soát hành chính lần thứ 20 (POR20) đối với vụ kiện chống bán phá giá tôm nước ấm tại Mỹ.
Theo ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần thực phẩm Sao Ta, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) vừa công bố mức thuế cuối cùng. Theo đó, thuế suất áp dụng với Công ty Sao Ta giảm từ 10,76% xuống 10,71%; Công ty cổ phần Thủy sản Sóc Trăng tăng từ 6,30% lên 6,36%. Các công ty có mức thuế suất riêng biệt là 7,59%. Như vậy, Sao Ta hiện chịu mức thuế chống bán phá giá tôm cao nhất.
Ông Hồ Quốc Lực cho biết, khi DOC công bố mức thuế sơ bộ 10,76%, Sao Ta đã thực sự lo lắng vì nếu được giữ nguyên, hoạt động xuất khẩu tôm sang Mỹ sẽ gặp bất lợi đáng kể, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh.
Dù đã nỗ lực hợp tác, giải trình và cung cấp thông tin, kết quả cuối cùng vẫn chưa đạt kỳ vọng. Tuy nhiên, Sao Ta xem đây là kinh nghiệm quý báu trong ứng phó với các vụ kiện phòng vệ thương mại quốc tế.
Theo ông Hồ Quốc Lực, mức thuế mới làm giảm sức cạnh tranh của Sao Ta tại Mỹ trong ngắn hạn, nhưng Mỹ vẫn là thị trường quan trọng trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Sao Ta không có lý do từ bỏ thị trường có sức tiêu thụ lớn, với những khách hàng đã hợp tác bền vững hơn 20 năm, nhưng cũng không chủ trương tăng trưởng bằng mọi giá.
Doanh nghiệp sẽ duy trì quan hệ với khách hàng lâu năm, tìm kiếm thêm khách hàng có hệ thống phân phối tốt; đẩy mạnh sản phẩm chế biến sâu, giá trị gia tăng; nâng cao chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tính ổn định của sản phẩm. Đồng thời, Sao Ta kiểm soát giá thành, tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu, nâng cao năng suất lao động và tiếp tục đầu tư vùng nuôi, chuỗi liên kết nguyên liệu để chủ động nguồn cung, kiểm soát chất lượng, giảm rủi ro dịch bệnh.
Bên cạnh thị trường Mỹ, doanh nghiệp tiếp tục khai thác thị trường Nhật Bản, EU và những thị trường tiềm năng khác. Mục tiêu không chỉ là bán được nhiều tôm hơn mà còn nâng cao giá trị sản phẩm, hiệu quả kinh doanh và phát triển bền vững.
Kết quả cuối cùng dự kiến áp dụng vào đầu tháng 11/2026 sẽ tác động đến chi phí và khả năng chốt đơn hàng tôm sang Mỹ. Nếu thuế giảm đáng kể, triển vọng đàm phán đơn hàng sẽ tích cực hơn; ngược lại, nếu thuế giữ gần mức sơ bộ hoặc cao hơn, khó kỳ vọng thị trường Mỹ sớm kéo xuất khẩu tôm trở lại tăng trưởng mạnh.
Với kim ngạch 10,459 tỷ USD sau 10 tháng, để đạt mục tiêu 12 tỷ USD, xuất khẩu thủy sản trong hai tháng cuối năm cần bình quân khoảng 770 triệu USD/tháng, thấp hơn đáng kể mức ước tính tháng 10. Do đó, mục tiêu 12 tỷ USD có cơ sở, song khả năng vượt xa mốc này vẫn phụ thuộc vào sức mua tại Trung Quốc, ASEAN và mức phục hồi của ngành tôm sau kết quả POR20.