![]() |
| Khu vực FDI vẫn là đầu tàu, trong khi tỷ trọng doanh nghiệp nội địa còn khiêm tốn. Ảnh: Tư liệu. |
Xuất khẩu tiến sát mốc 500 tỷ USD
Theo số liệu Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố ngày 3/11, kim ngạch xuất khẩu tháng 10/2026 đạt 64,67 tỷ USD, tăng 8,7% so với tháng trước và 51,4% so với cùng kỳ. Khu vực trong nước đạt 9,94 tỷ USD, tăng tương ứng 4,2% và 13,5%; khu vực FDI (kể cả dầu thô) đạt 54,73 tỷ USD, tăng 9,5% so với tháng trước và 61,2% so với cùng kỳ. Kết quả này đưa xuất khẩu lũy kế tiến sát mốc 500 tỷ USD.
Trong 10 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 1.010,55 tỷ USD, tăng 32,3%, lần đầu vượt mốc 1.000 tỷ USD. Riêng tháng 10, tổng kim ngạch đạt 122,03 tỷ USD, tăng 3,7% so với tháng trước và 47,4% so với cùng kỳ. Xuất khẩu đạt 499,24 tỷ USD, nhập khẩu đạt 511,31 tỷ USD. Quy mô thương mại mở rộng phản ánh sự sôi động của sản xuất và giao thương toàn cầu. Tuy nhiên, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu khiến cán cân thương mại tiếp tục nhập siêu 12,07 tỷ USD sau 10 tháng, trái với mức xuất siêu 19,49 tỷ USD cùng kỳ năm trước. Khu vực FDI giữ vai trò lớn, trong khi khu vực kinh tế nội địa vẫn nhập siêu. Diễn biến này đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực sản xuất, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng khả năng cung ứng. Đây là điều kiện để cải thiện giá trị trong nước, củng cố sức cạnh tranh hàng hóa và bảo đảm tăng trưởng thương mại bền vững. |
Tính chung 10 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 499,24 tỷ USD, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực trong nước đạt 93,93 tỷ USD, tăng 8,2%, chiếm 18,8%; khu vực FDI đạt 405,31 tỷ USD, tăng 33%, chiếm 81,2%. FDI vẫn là đầu tàu, trong khi tỷ trọng doanh nghiệp nội địa còn khiêm tốn, đặt ra yêu cầu nâng năng lực sản xuất, công nghệ và tham gia chuỗi cung ứng.
Công nghiệp chế biến tiếp tục chi phối cơ cấu xuất khẩu, đạt 452,74 tỷ USD, chiếm 90,7%. Nông sản, lâm sản đạt 33,48 tỷ USD, chiếm 6,7%; thủy sản 10,36 tỷ USD, chiếm 2,1%; nhiên liệu và khoáng sản 2,66 tỷ USD, chiếm 0,5%. Có 37 mặt hàng đạt trên 1 tỷ USD, chiếm 94,9% tổng kim ngạch; trong đó 8 mặt hàng vượt 10 tỷ USD, chiếm 73,4%.
Điện tử, máy tính và linh kiện dẫn đầu với 149,408 tỷ USD, tăng 71%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 63,268 tỷ USD, tăng 30,4%; điện thoại và linh kiện đạt 57,611 tỷ USD, tăng 18,4%. Dệt may đạt 33,735 tỷ USD, tăng 2,2%; giày dép 20,240 tỷ USD, tăng 1,8%; phương tiện vận tải và phụ tùng 16,943 tỷ USD, tăng 17,1%; gỗ và sản phẩm gỗ 15,014 tỷ USD, tăng 6,8%; thủy sản 10,365 tỷ USD, tăng 10,9%. Điện tử tạo lực kéo lớn, nhưng dệt may, giày dép, gỗ tăng chậm, cho thấy sức bật giữa các ngành chưa đồng đều.
Theo bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 10/2026 đạt 122,03 tỷ USD, tăng 3,7% so với tháng trước và 47,4% so với cùng kỳ; lũy kế 10 tháng đạt 1.010,55 tỷ USD, tăng 32,3%. Bà Hương nhấn mạnh: “Đây là lần đầu tiên tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam vượt mốc 1.000 tỷ USD, đạt mức cao nhất từ trước đến nay”. Cột mốc này khẳng định quy mô giao thương mở rộng, đồng thời đòi hỏi tăng sức chống chịu trước biến động từ bên ngoài.
Cán cân thương mại vẫn nhập siêu
Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu tháng 10/2026 đạt 57,36 tỷ USD, giảm 1,4% so với tháng trước nhưng tăng 43,1% so với cùng kỳ. Khu vực trong nước đạt 13,45 tỷ USD, tăng 2,4% theo tháng và 17,6% theo năm; khu vực FDI đạt 43,91 tỷ USD, giảm 2,6% theo tháng nhưng tăng 53,2% theo năm. Nhập khẩu giảm theo tháng, song nhu cầu đầu vào vẫn tăng mạnh.
Lũy kế 10 tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu đạt 511,31 tỷ USD, tăng 37,4%, cao hơn 9,9 điểm phần trăm so với xuất khẩu. Khu vực trong nước đạt 131,76 tỷ USD, tăng 23%; FDI đạt 379,55 tỷ USD, tăng 43,2%. Nhập khẩu tăng nhanh phản ánh nhu cầu đầu vào sản xuất, nhưng cũng khiến cán cân thương mại hàng hóa lũy kế tiếp tục chuyển sang nhập siêu.
Tư liệu sản xuất đạt 481,03 tỷ USD, chiếm 94,1% nhập khẩu; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 58,5%, nguyên, nhiên, vật liệu 35,6%. Vật phẩm tiêu dùng đạt 30,28 tỷ USD, chiếm 5,9%. Trong 47 mặt hàng nhập khẩu trên 1 tỷ USD, có 8 mặt hàng vượt 10 tỷ USD. Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 215,25 tỷ USD, tăng 74,4%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác 60,062 tỷ USD, tăng 21,1%; vải 12,875 tỷ USD, tăng 2,8%; kim loại thường khác 12,572 tỷ USD, tăng 36,2%; chất dẻo 11,553 tỷ USD, tăng 11,1%; ô tô 11,187 tỷ USD, tăng 31,2%; xăng dầu 10,244 tỷ USD, tăng 79,1%; sản phẩm chất dẻo 10,2 tỷ USD, tăng 15,5%.
Tỷ trọng tư liệu sản xuất cho thấy, nhập khẩu chủ yếu phục vụ sản xuất. Tuy nhiên, phụ thuộc vào linh kiện, máy móc, nguyên liệu bên ngoài bộc lộ hạn chế của công nghiệp hỗ trợ. Điện tử, máy tính và linh kiện vừa dẫn đầu xuất khẩu, vừa là mặt hàng nhập khẩu lớn nhất. Tăng kim ngạch chưa đồng nghĩa giá trị nội địa được giữ lại tương ứng; cần phát triển nhà cung ứng, nội địa hóa và liên kết với FDI.
Có thể thấy, tháng 10 cán cân thương mại xuất siêu 7,31 tỷ USD, sau mức 1,3 tỷ USD trong tháng 9. Đây là tháng thứ hai liên tiếp ghi nhận xuất siêu trong năm 2026. Dù vậy, 10 tháng năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa vẫn nhập siêu 12,07 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu 19,49 tỷ USD. Khu vực trong nước nhập siêu 37,83 tỷ USD; khu vực FDI, kể cả dầu thô, xuất siêu 25,76 tỷ USD. Thặng dư chủ yếu dựa vào FDI, còn doanh nghiệp nội địa chịu sức ép nhập khẩu.
Nhập siêu 12,07 tỷ USD sau 10 tháng cho thấy nội lực còn hạn chế. Cuối năm, doanh nghiệp cần giữ đơn hàng, đa dạng hóa thị trường, nguồn cung, đáp ứng quy tắc xuất xứ, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn xanh. Phát triển công nghiệp hỗ trợ, nội địa hóa, nâng công nghệ sẽ giúp giảm phụ thuộc, củng cố thêm sức cạnh tranh.
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất, đạt 159,4 tỷ USD; Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất, đạt 212,46 tỷ USD. Việt Nam xuất siêu sang Hoa Kỳ 140,1 tỷ USD, tăng 26,2%; EU 40,84 tỷ USD, tăng 26,8%; Nhật Bản 3,42 tỷ USD, tăng 110,4%. Nhập siêu từ Trung Quốc đạt 134,94 tỷ USD, tăng 43,2%; Hàn Quốc 48,63 tỷ USD, tăng 91,1%; ASEAN 16,93 tỷ USD, tăng 46%. Cơ cấu này cho thấy khả năng khai thác thị trường lớn, đồng thời phản ánh phụ thuộc nguồn cung châu Á.
Nhìn tổng thể, hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục cho thấy khả năng thích ứng của nền kinh tế trước những biến động của thị trường. Bên cạnh việc duy trì đà tăng trưởng, yêu cầu đặt ra là nâng cao chất lượng hàng hóa, chủ động nguồn cung, mở rộng thị trường và gia tăng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp trước mắt mà còn là điều kiện để củng cố nội lực, nâng tầm vị thế thương mại Việt Nam và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong giai đoạn tới.