![]() |
| Hàng hóa xuất nhập khẩu tại khu vực cảng Hải Phòng. Ảnh: Cảng Green Port. |
Điện tử và máy móc dẫn dắt tăng trưởng
Theo số liệu thống kê sơ bộ được Cục Hải quan công bố hôm nay (5/11), tháng 10/2026, kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 64,67 tỷ USD, tăng 8,7% so với tháng trước và tăng tới 53,8% so với cùng kỳ 2025 (tương ứng tăng 22,62 tỷ USD). Lũy kế 10 tháng, xuất khẩu cả nước đạt 499,23 tỷ USD, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó đáng chú ý, tâm điểm của bức tranh xuất khẩu là 3 nhóm hàng chủ lực: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; điện thoại các loại và linh kiện.
Chỉ riêng ba nhóm hàng chủ lực nêu trên có tổng kim ngạch 270,29 tỷ USD, chiếm 54,14% xuất khẩu cả nước. Cơ cấu này khẳng định vai trò nổi bật của các ngành sản xuất công nghiệp, điện tử trong mở rộng quy mô thương mại của Việt Nam.
Bên cạnh những ngành hàng dẫn đầu về quy mô kim ngạch, nhiều nhóm hàng công nghiệp và nguyên liệu ghi nhận mức tăng trưởng cao trong 10 tháng cũng là sự bổ trợ đáng kể cho sự khởi sắc của xuất khẩu.
Đáng chú ý như phân bón đạt 1,28 tỷ USD, tăng 71%; hóa chất đạt 3,73 tỷ USD, tăng 61,4%; xăng dầu đạt 1,19 tỷ USD, tăng 53,2%; thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt 1,75 tỷ USD, tăng 51,8%; dầu mỡ động, thực vật đạt 1,04 tỷ USD, tăng 43,6%; chất dẻo nguyên liệu đạt 2,77 tỷ USD, tăng 42,7%...
Những kết quả này cho thấy động lực tăng trưởng hiện diện ở nhiều nhóm hàng, dù quy mô đóng góp tuyệt đối còn có khoảng cách lớn so với các ngành dẫn đầu.
Riêng tháng 10, hóa chất đạt 491,3 triệu USD, tăng 11,9% so với tháng trước và cao hơn khoảng 86,9% so với số liệu sơ bộ cùng tháng năm 2025. Phân bón đạt 89,49 triệu USD, tăng 16,5% so với tháng trước và hơn gấp đôi mức ghi nhận tại bảng sơ bộ tháng 10/2025.
Cùng với đó, lĩnh vực nông sản, thủy sản tiếp tục tạo điểm tựa nhưng diễn biến không đồng đều. Hàng thủy sản đạt 10,36 tỷ USD, tăng 10,9%; rau quả đạt 8,29 tỷ USD, tăng 17,3%; hạt tiêu đạt 1,58 tỷ USD, tăng 12,9% là những điểm sáng.
Trong khi đó, cà phê chỉ đạt 7,08 tỷ USD, giảm 5,2%, dù lượng xuất khẩu tăng 18,5%. Từ hai chỉ tiêu này có thể tính được đơn giá xuất khẩu bình quân giảm khoảng 20%.
Gạo cũng chỉ đạt 3,34 tỷ USD, giảm 8,8%, với lượng xuất khẩu giảm 3,6%; cao su đạt 2,55 tỷ USD, giảm 2,1%; sắn và các sản phẩm từ sắn đạt 1,01 tỷ USD, giảm 2,9%...
Trong 10 tháng, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục giữ tỷ trọng lớn, với xuất khẩu 10 tháng đạt 404,38 tỷ USD, tăng 33,2%, chiếm khoảng 81% tổng kim ngạch cả nước.
![]() |
| Xe chở hàng xuất khẩu tại Lối mở cầu phao tạm Km3+4 (phường Móng Cái 3, TP. Quảng Ninh). Ảnh: Thái Bình. |
Hướng tới mốc 600 tỷ USD
Kết quả tháng 10 và 10 tháng cho thấy quy mô xuất khẩu của Việt Nam đang mở rộng mạnh, với vai trò dẫn dắt rõ rệt của điện tử, máy móc và sự bổ sung từ nhiều nhóm hàng công nghiệp và nông nghiệp.
Với kim ngạch xuất khẩu gần 500 tỷ USD và quy mô kim ngạch những tháng gần đây đều đạt trên 50 tỷ USD/tháng (từ tháng 6 đến nay) và liên tục tăng, khả năng cao xuất khẩu năm 2026 cán mốc 600 tỷ USD.
Con số 600 tỷ USD cao hơn đáng kể so với mục tiêu mà Chính phủ đề ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 8/1/2026.
Tại Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 đã đề ra mục tiêu tăng trưởng tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2026 đạt khoảng 15% đến 16% so với năm 2025.
Để đạt được mục tiêu Chính phủ giao, kim ngạch xuất khẩu năm 2026 cần đạt ngưỡng 546 - 550 tỷ USD. Điều này đồng nghĩa với việc kim ngạch xuất khẩu bình quân hằng tháng trong năm 2026 cần đạt mức ước tính từ 45 đến 46 tỷ USD.
Tuy nhiên, như đề cập ở trên, kết quả xuất khẩu 10 tháng qua đạt trung bình gần 50 tỷ USD/tháng. Đặc biệt từ tháng 6 trở lại đây xuất khẩu đều đạt trên 50 tỷ USD.
Cụ thể, tháng 6 đạt 50,8 tỷ USD; tháng 7 đạt 53 tỷ USD; tháng 8 đạt 54,8 tỷ USD và tháng 9 đạt 59,5 tỷ USD. Đây là cơ sở để kỳ vọng xuất khẩu năm nay vượt mục tiêu mà Chính phủ đề ra.
Để duy trì đà tăng trong những tháng cuối năm, vấn đề đặt ra là cần tiếp tục tạo thuận lợi trong thông quan, giảm chi phí logistics và hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng ưu đãi thương mại.
Đồng thời, tăng liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI sẽ giúp chuyển quy mô xuất khẩu ngày càng lớn thành năng lực sản xuất và giá trị gia tăng bền vững.