![]() |
| Các quy định mới góp phần mở rộng quyền lựa chọn cho người nộp thuế, tạo sự đồng bộ giữa kỳ khai thuế GTGT và thuế TNCN. |
Linh hoạt hơn nhưng chặt chẽ hơn trong khai thuế TNCN
Một trong những nội dung được người nộp thuế đặc biệt quan tâm tại Nghị định 373/2025/NĐ-CP là sửa đổi, bổ sung Điều 9 của Nghị định số 126/2020/NĐ-CP liên quan đến kỳ khai thuế.
Theo quy định mới, người nộp thuế thuộc diện khai thuế TNCN theo tháng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP, nếu đồng thời đủ điều kiện khai thuế giá trị gia tăng (GTGT) theo quý, thì được lựa chọn khai thuế tncn theo quý. Quy định này mở rộng quyền lựa chọn cho người nộp thuế, tạo sự đồng bộ giữa kỳ khai thuế GTGT và thuế TNCN, qua đó giúp giảm số lần thực hiện thủ tục hành chính trong năm.
Tuy nhiên, Nghị định mới cũng nêu rõ, trường hợp người nộp thuế tự phát hiện không đủ điều kiện khai thuế theo quý, thì phải thực hiện khai thuế theo tháng kể từ tháng đầu của quý tiếp theo, đồng thời nộp lại hồ sơ khai thuế theo tháng của các quý trước đó và tính tiền chậm nộp theo quy định.
Trường hợp cơ quan Thuế phát hiện người nộp thuế không đủ điều kiện khai theo quý, thì cơ quan Thuế ban hành văn bản yêu cầu người nộp thuế chuyển sang khai thuế theo tháng kể từ tháng đầu của quý tiếp theo, nộp lại hồ sơ khai thuế theo tháng của các quý trước và tính tiền chậm nộp, trừ trường hợp phát hiện qua kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế.
Đáng chú ý, người nộp thuế không bị xử phạt vi phạm hành chính về chậm nộp hồ sơ khai thuế đối với các hồ sơ phải nộp lại do thay đổi kỳ tính thuế. Các hồ sơ khai thuế theo tháng nộp lại được xác định là hồ sơ thay thế cho hồ sơ khai theo quý đã nộp trước đó.
Theo đánh giá, quy định này nhằm giảm rủi ro xử phạt cho người nộp thuế, nhưng vẫn yêu cầu thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, đặc biệt là tiền chậm nộp.
Bên cạnh đó, Nghị định số 373/2025/NĐ-CP cũng sửa đổi quy định tại Điều 11 về nơi nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN. Theo đó, cá nhân cư trú có thu nhập tiền lương, tiền công thuộc diện tổ chức chi trả khấu trừ tại nguồn từ hai nơi trở lên, thì phải nộp hồ sơ quyết toán thuế tại cơ quan Thuế quản lý trực tiếp tổ chức trả thu nhập lớn nhất trong năm.
Trường hợp có nhiều nguồn thu nhập lớn nhất bằng nhau, cá nhân được lựa chọn nộp hồ sơ tại một trong các cơ quan Thuế quản lý trực tiếp các tổ chức chi trả đó. Nếu cá nhân nộp hồ sơ không đúng nơi quy định, cơ quan Thuế đã tiếp nhận hồ sơ sẽ căn cứ dữ liệu ngành Thuế để hỗ trợ chuyển hồ sơ đến đúng cơ quan Thuế có thẩm quyền, bảo đảm việc quyết toán được thực hiện theo quy định.
Siết chặt thời hạn thông báo, nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất
Một nhóm nội dung khác có tác động rất lớn đến người nộp thuế là các sửa đổi, bổ sung tại Điều 13 và Điều 18 của Nghị định số 126/2020/NĐ-CP liên quan đến nghĩa vụ tài chính về đất đai.
![]() |
| Nghị định quy định cụ thể thời hạn cơ quan Thuế ban hành và gửi thông báo nộp thuế cho người nộp thuế. |
Trước hết, Nghị định số 373/2025/NĐ-CP bổ sung quy định rõ tiền thuê đất áp dụng đối với trường hợp chưa có quyết định cho thuê đất, hợp đồng cho thuê đất; đồng thời mở rộng phạm vi các khoản thu ngân sách từ đất đai do cơ quan Thuế quản lý, bao gồm khoản tiền người sử dụng đất phải nộp bổ sung đối với thời gian chưa tính tiền thuê đất, tiền sử dụng đất.
Đáng chú ý, Nghị định quy định rất cụ thể thời hạn cơ quan Thuế ban hành và gửi thông báo nộp thuế cho người nộp thuế tính từ thời điểm nhận đủ hồ sơ hợp pháp. Cụ thể, đối với tiền sử dụng đất và khoản phải nộp bổ sung của tổ chức, cá nhân là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài chậm nhất 7 ngày làm việc. Đối với hộ gia đình, cá nhân (trừ người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài) chậm nhất 5 ngày làm việc.
Đối với tiền thuê đất và khoản phải nộp bổ sung là 5 ngày làm việc; thuế TNCN từ chuyển nhượng bất động sản, nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản và lệ phí trước bạ nhà, đất là 3 ngày làm việc.
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định rõ trách nhiệm và thời hạn phối hợp giữa cơ quan Thuế và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp hồ sơ, thông tin chưa đầy đủ hoặc chưa hợp pháp, qua đó giảm tình trạng kéo dài thời gian xác định nghĩa vụ tài chính.
Về thời hạn nộp tiền, Điều 18 được sửa đổi theo hướng cụ thể hóa lộ trình nộp đối với từng trường hợp. Theo đó, thời hạn nộp tiền thuê đất lần đầu chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày ban hành thông báo nộp tiền thuê đất của cơ quan Thuế. Từ năm thứ 2 trở đi, người thuê đất được lựa chọn nộp 1 lần hoặc 2 lần trong năm, với các mốc thời hạn rõ ràng là 31/5 và 31/10. Trường hợp thuê đất mới hoặc điều chỉnh nghĩa vụ tài chính, thời hạn nộp được xác định dựa trên ngày ban hành thông báo của cơ quan Thuế.
Đối với tiền thuê đất nộp 1 lần cho cả thời gian thuê và tiền sử dụng đất, Nghị định quy định cơ chế nộp làm 2 đợt 50% – 50%, tương ứng với các mốc 30 ngày và 90 ngày kể từ ngày ban hành thông báo. Riêng trường hợp xác định lại tiền sử dụng đất sau thời hạn 5 năm đối với đất tái định cư, người sử dụng đất phải nộp đủ 100% số tiền trong vòng 30 ngày.
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 14/2/2026. Trường hợp đã kê khai thuế theo mẫu tại Nghị định số 126/2020/NĐ-CP và Thông tư số 80/2021/TT-BTC, thì tiếp tục thực hiện kê khai, quyết toán thuế cho kỳ tính thuế năm 2025. Đối với các chuyến dầu thô, khí thiên nhiên xuất bán kể từ ngày 1/1/2026 thì kê khai theo mẫu tại Nghị định này.