![]() |
| Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan. Ảnh: H.Nụ |
Số hóa dữ liệu
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, Luật Hải quan sau 12 năm thực hiện đã tạo bước ngoặt lớn về cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi phương thức quản lý sang áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro; giúp giảm đáng kể thời gian thông quan, minh bạch hóa quy trình, bảo vệ lợi ích quốc gia, và hiện đại hóa ngành Hải quan.
Tuy Luật đã được sửa đổi, bổ sung 5 lần, nhưng do sự bùng nổ của thương mại điện tử, chuyển đổi số và các phương thức giao thương toàn cầu mới đã bộc lộ một số bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, chuyển đổi số và chưa đồng bộ với nhiều luật chuyên ngành đã sửa đổi.
Mặt khác, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành về đổi mới bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; cắt giảm thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, không phụ thuộc địa giới; minh bạch, tự động hóa, ứng dụng AI và dữ liệu lớn trong quy trình hoạt động hải quan; tăng cường quản lý thương mại điện tử, kết nối chia sẻ dữ liệu; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Vì vậy, việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan để tái thiết kế quy trình nghiệp vụ, xây dựng hệ thống Hải quan số, Hải quan thông minh là cần thiết.
Một trong những nội dung trọng tâm của dự thảo Luật Hải quan lần này là cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Theo đó, chứng từ trong bộ hồ sơ hải quan được chuyển từ hình thức chứng từ điện tử sang thông điệp dữ liệu điện tử, tạo nền tảng triển khai Hải quan số.
Dự thảo cũng đề xuất bãi bỏ điều kiện kinh doanh đối với đại lý làm thủ tục hải quan và điều kiện đối với nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan.
Dự thảo Luật Hải quan đề xuất bãi bỏ hoàn toàn các điều kiện kinh doanh đối với đại lý làm thủ tục hải quan và nhân viên đại lý, đưa hoạt động này về đúng quy luật tự do cạnh tranh của thị trường.
Đồng thời, việc kéo dài thời hạn lưu giữ hàng hóa tại kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ CFS, địa điểm kinh doanh hàng miễn thuế, đi kèm với việc bãi bỏ hoàn toàn thủ tục xin gia hạn hành chính phiền hà sẽ giải phóng doanh nghiệp khỏi những nghĩa vụ báo cáo không cần thiết.
Ngược lại, để bảo đảm khả năng kiểm soát chặt chẽ đối với các hành vi gian lận thương mại và thất thu ngân sách, công tác hậu kiểm được gia cố vững chắc bằng việc bổ sung các nguyên tắc kiểm tra sau thông quan, hợp nhất thủ tục kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan và doanh nghiệp.
Thời hạn tiến hành kiểm tra sau thông quan và gia hạn cũng được điều chỉnh tăng từ mười ngày làm việc lên tối đa là hai mươi ngày nhằm bảo đảm tính kỹ lưỡng, chính xác của các kết luận thanh tra.
Song song với đó, để bắt kịp các phương thức giao thương thế hệ mới, dự thảo đã bổ sung Điều 16a quy định về kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử, tạo hành lang pháp lý thống nhất với Luật Thương mại điện tử nhằm quản lý hiệu quả dòng thác hàng hóa nhỏ lẻ đang bùng nổ qua biên giới mỗi ngày.
Đề nghị lưu ý 4 nội dung
Thẩm tra dự án Luật Hải quan, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu bày tỏ sự thống nhất cao của Thường trực Ủy ban cùng các cơ quan của Quốc hội về sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan cũng như phạm vi sửa đổi được đề xuất.
![]() |
| Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu phát biểu tại phiên họp. |
Cơ quan thẩm tra đánh giá cao định hướng cải cách thủ tục hành chính lấy chuyển đổi số làm trọng tâm, đồng thời đề nghị tiếp tục rà soát cắt giảm thời gian giải quyết thủ tục, hoàn thiện cơ chế quản lý hải quan đối với thương mại điện tử, các tuyến đường vận chuyển và công tác kiểm tra sau thông quan theo hướng minh bạch nhất.
Chủ nhiệm Phan Chí Hiếu đưa ra 4 ý kiến góp ý cụ thể để hoàn thiện dự thảo:
Thứ nhất, về kiểm định hải quan, đồng ý bổ sung quy định mới nhưng yêu cầu làm rõ phạm vi, trình tự, phân định rạch ròi với đánh giá chuyên ngành của các bộ, ngành khác, đồng thời quy định rõ quyền khiếu nại của doanh nghiệp và cơ chế xử lý khi có kết quả mâu thuẫn.
Thứ hai, về kiểm tra chuyên ngành, thống nhất việc kết nối dữ liệu qua Cơ chế một cửa quốc gia, đồng thời kiến nghị thí điểm mô hình giao hải quan làm đầu mối duy nhất tiếp nhận, điều phối kiểm tra chuyên ngành tại cửa khẩu để giảm chi phí tuân thủ.
Thứ ba, về xử lý hàng tồn đọng, đồng ý cơ chế xử lý hàng hóa gây ô nhiễm môi trường để giảm tải cho kho bãi, nhưng đề nghị làm rõ trách nhiệm chủ trì xử lý của doanh nghiệp kinh doanh cảng để bảo đảm tính đồng bộ.
Thứ tư, về vận hành và phân cấp, đề nghị rà soát kỹ các quy định giao Chính phủ và Bộ Tài chính hướng dẫn để tránh khoảng trống pháp lý, đồng thời làm rõ thời điểm áp dụng quy định hồ sơ điện tử để bảo đảm tính khả thi khi luật có hiệu lực.