![]() |
| Cơ quan Hải quan chủ động rà soát, tham mưu đề xuất sửa đổi nhiều quy định tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. |
Số hóa quy trình khai thuế để liên thông dữ liệu
Trọng tâm của nhóm giải pháp tạo thuận lợi cho hoạt động quản lý thuế được thể hiện rõ nét tại Điều 3 của Thông tư số 86/2026/TT-BTC, quy định về hình thức và trách nhiệm nộp hồ sơ khai thuế.
Theo đó, người nộp thuế thực hiện khai báo đầy đủ, chính xác các thông tin trên tờ khai hải quan thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan làm căn cứ xác định nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước. Các chỉ tiêu thông tin đầu vào này được chuẩn hóa chi tiết tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 86/2026/TT-BTC, bao gồm 25 mẫu biểu và 73 chứng từ đã được số hóa hoàn toàn (tương đương khoảng 1.000 chỉ tiêu thông tin).
Đột phá lớn nhất trong cơ chế khai thuế mới là nguyên tắc liên thông và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước để triệt tiêu hồ sơ giấy. Quy định nêu rõ, trường hợp các chứng từ đã có sẵn trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, Cổng Dịch vụ công quốc gia, hoặc các cơ sở dữ liệu chuyên ngành đã kết nối với cơ quan Hải quan thì người nộp thuế hoàn toàn không phải nộp bản giấy hay bản chụp. Doanh nghiệp chỉ cần cung cấp thông tin liên quan đến chứng từ để cơ quan Hải quan tự khai thác và đối chiếu trên hệ thống.
Đánh giá về tính thực tiễn của quy định này, lãnh đạo Ban Nghiệp vụ thuế hải quan (Cục Hải quan) phân tích, sự thay đổi tại Điều 3 Thông tư số 86/2026/TT-BTC phản ánh bước chuyển dịch phương thức quản lý dựa trên dữ liệu số thay vì hồ sơ giấy tờ truyền thống. Việc liên thông dữ liệu giữa các bộ, ngành không chỉ giúp giảm tải áp lực hành chính cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu mà còn tăng tính minh bạch, hạn chế tối đa sự can thiệp thủ công của công chức hải quan trong quá trình xác định nghĩa vụ thuế.
Nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc vận hành hệ thống điện tử, Thông tư số 86/2026/TT-BTC đã bổ sung quy định cụ thể tại Điều 3. Trong đó, tại khoản 4 Thông tư số 86/2026/TT-BTC làm rõ hình thức nộp hồ sơ khai thuế (gồm cả phương thức điện tử và hồ sơ giấy dự phòng). Khoản 5 quy định trách nhiệm tự kê khai, tự chịu trách nhiệm và lưu trữ hồ sơ của người nộp thuế theo nguyên tắc quy định tại Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 và Luật Hải quan. Khoản 6 xác định rõ trách nhiệm của cơ quan Hải quan trong việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ qua hệ thống điện tử và chủ động khai thác các nguồn dữ liệu sẵn có.
Phân cấp mạnh mẽ
Bên cạnh nền tảng số hóa, tinh thần phân cấp, phân quyền và cắt giảm thủ tục hành chính được hiện thực hóa bằng những điều khoản cắt giảm định lượng, tác động trực tiếp đến dòng tiền và tiến độ vận hành của doanh nghiệp.
![]() |
| Công chức Hải quan Ninh Bình (Chi cục Hải quan khu vực IV) hướng dẫn thủ tục cho doanh nghiệp. Ảnh: H.Nụ |
Tại Điều 6 của Thông tư số 86/2026/TT-BTC, thời hạn xử lý hồ sơ gia hạn nộp thuế tại điểm b khoản 3 đã được rút ngắn xuống chỉ còn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
So với quy định trước đây tại Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 là 10 ngày, việc cắt giảm một nửa thời gian chờ đợi này giúp doanh nghiệp nhanh chóng giải phóng nguồn vốn lưu động để đưa vào tái sản xuất.
Đồng thời, tại Điều 33 Thông tư số 86/2026/TT-BTC quy định về trình tự ấn định thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu cũng được tinh gọn bằng việc bãi bỏ hoàn toàn bước gửi thông báo bằng văn bản giải trình căn cứ pháp lý, phương pháp tính thuế... trước khi ban hành quyết định ấn định thuế, giúp đơn giản hóa một khâu trung gian không cần thiết.
Đối với các nhóm hàng hóa phục vụ an sinh xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh (Điều 24) hay phương tiện vận tải chuyên dùng (Điều 28), Thông tư số 86/2026/TT-BTC đã thực hiện một bước cải cách lớn khi xóa bỏ hàng loạt xác nhận chuyên ngành. Điển hình như việc bãi bỏ yêu cầu nộp Quyết định công bố dịch bệnh của cấp có thẩm quyền và bãi bỏ Văn bản xác nhận của Bộ Khoa học và Công nghệ đối với phương tiện vận tải chuyên dùng miễn thuế.
Thay vào đó, người nộp thuế tự kê khai, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật và cơ quan Hải quan sẽ chủ động tra cứu các thông tin này trên các cổng dữ liệu quốc gia hoặc phương tiện thông tin đại chúng.
Đặc biệt, thủ tục thông báo việc kết thúc nhập khẩu lô hàng cuối cùng của mỗi tổ hợp, dây chuyền (điểm c khoản 7 Điều 28) vốn gây nhiều vướng mắc cho các dự án đầu tư lớn nay đã được bãi bỏ.
Thay vào đó, điểm a khoản 3 Điều 29 Thông tư số 86/2026/TT-BTC quy định chủ dự án chỉ cần thông báo với cơ quan Hải quan khi hoàn thiện lắp đặt tổ hợp, dây chuyền nhằm phục vụ công tác hậu kiểm.
Đánh giá về tác động của các giải pháp cải cách này đối với khu vực kinh tế tư nhân, ông Nguyễn Thành Hưng, Phó Cục trưởng Cục Hải quan khẳng định, việc mạnh tay bãi bỏ các thủ tục trung gian và các văn bản xác nhận liên bộ, ngành đã thể hiện tinh thần phân cấp, phân quyền thực chất, trao quyền tự chủ đi liền với trách nhiệm giải trình cho doanh nghiệp.
Ngành Hải quan đang chuyển dịch mạnh mẽ từ vai trò kiểm soát hành chính sang tạo thuận lợi và hỗ trợ tối đa. Mỗi quy trình được tinh gọn, mỗi ngày làm việc được rút ngắn là một cơ hội để doanh nghiệp tư nhân tiết giảm chi phí tuân thủ, tối ưu hóa nguồn lực và chủ động hơn trong kế hoạch sản xuất, kinh doanh, ông Nguyễn Thành Hưng nhấn mạnh.