Thứ hai 09/11/2026 01:33
Thời tiết: Hà Nội 24°C
Đà Nẵng 26°C
Cà Mau 25°C
Hải Phòng 26°C
TP Hồ Chí Minh 26°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách / Chính sách và cuộc sống
aa

Quản lý khu phi thuế quan từ dữ liệu và bản chất hàng hóa

Nụ Bùi
Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 134/2016/NĐ-CP đang đặt yêu cầu rõ hơn đối với điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan tại khu phi thuế quan, đồng thời các ý kiến góp ý đề nghị việc xử lý thuế phải căn cứ vào khả năng quản lý thực tế và dòng vận động của hàng hóa.
Công chức Hải quan Hà Nam (Chi cục Hải quan khu vực IV) giám sát hàng hóa ra vào kho bãi qua hệ thống camera giám sát trực tuyến. Ảnh: H.Nụ
Công chức Hải quan Hà Nam (Chi cục Hải quan khu vực IV) giám sát hàng hóa ra vào khu phi thuế quan. Ảnh: H.Nụ

Quản lý từ dữ liệu giám sát

Khu phi thuế quan, doanh nghiệp chế xuất được hưởng chính sách thuế đặc thù gắn với điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan. Vì vậy, việc hoàn thiện quy định tại Điều 28 dự thảo Nghị định không chỉ liên quan đến yêu cầu về hàng rào, cổng, cửa ra vào mà còn đặt ra bài toán kiểm soát hàng hóa bằng dữ liệu.

Trong dự thảo, điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan được gắn với hệ thống camera và phần mềm quản lý hàng hóa. Đây là cơ sở để cơ quan Hải quan kiểm soát việc đưa hàng hóa vào, sử dụng trong quá trình sản xuất và đưa sản phẩm ra khỏi khu phi thuế quan.

Từ thực tiễn kiểm tra sau thông quan, Chi cục Kiểm tra sau thông quan đề nghị quy định cụ thể hơn về hệ thống camera. Theo đó, camera phải giám sát liên tục 24/24 giờ, kể cả ngày nghỉ, ngày lễ, tại các vị trí cổng, cửa ra vào và nơi lưu giữ hàng hóa. Dữ liệu hình ảnh phải được kết nối trực tuyến với cơ quan Hải quan quản lý khu phi thuế quan và được lưu giữ tối thiểu 12 tháng. Chi cục cũng đề nghị Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định định dạng thông điệp dữ liệu trao đổi giữa cơ quan Hải quan và doanh nghiệp về hệ thống camera giám sát.

Điểm đáng chú ý là yêu cầu quản lý không dừng ở việc “có camera”, mà hướng đến khả năng cơ quan Hải quan có thể khai thác dữ liệu camera để phục vụ quản lý. Khi dữ liệu được kết nối trực tuyến và lưu giữ đủ thời gian, việc kiểm tra không chỉ dựa vào thời điểm kiểm tra thực tế mà có thể truy xuất quá trình vận động của hàng hóa khi cần thiết.

Đối với phần mềm quản lý hàng hóa, Chi cục Kiểm tra sau thông quan đề nghị quy định theo hướng theo dõi hàng hóa xuất nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế để phục vụ báo cáo quyết toán nhập - xuất - tồn. Đối với doanh nghiệp gia công, sản xuất xuất khẩu, phần mềm phải theo dõi được toàn bộ chuỗi quản lý hàng hóa từ khi nhập khẩu, qua quá trình sản xuất đến khi sản phẩm được xuất khẩu hoặc thay đổi mục đích sử dụng.

Dữ liệu được nhìn nhận như một công cụ quản lý xuyên suốt, giúp cơ quan Hải quan trả lời được câu hỏi quan trọng nhất đối với hàng hóa thuộc diện ưu đãi thuế: Hàng hóa nhập khẩu đã thực sự đi vào đâu, được sử dụng như thế nào và kết quả cuối cùng ra sao?

Cách tiếp cận này cũng tạo cơ sở để phân định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp. Doanh nghiệp được hưởng chính sách thuế phải có khả năng chứng minh quá trình quản lý hàng hóa bằng hệ thống dữ liệu, hồ sơ, chứng từ và báo cáo nhập - xuất - tồn.

Phân định nghĩa vụ thuế theo thực tế hàng hóa

Một vấn đề phức tạp hơn được các đơn vị hải quan đặt ra là trường hợp doanh nghiệp chế xuất đã được xác nhận đủ điều kiện kiểm tra, giám sát nhưng trong quá trình hoạt động phát sinh thời điểm không còn đáp ứng một hoặc một số điều kiện.

Chi cục Hải quan khu vực IV đề nghị bổ sung cơ chế xử lý theo hướng phân biệt rõ từng trường hợp. Theo ý kiến của đơn vị, đối với lượng hàng hóa nhập khẩu kể từ sau thời điểm cơ quan Hải quan kết luận doanh nghiệp không đáp ứng điều kiện thì không được áp dụng chính sách thuế đối với khu phi thuế quan. Nếu doanh nghiệp sau đó đáp ứng trở lại các điều kiện thì được áp dụng chính sách từ ngày có văn bản xác nhận đáp ứng điều kiện.

Công chức Hải quan Ninh Bình (CHi cục Hải quan khu vực IV) hướng dẫn thủ tục cho doanh nghiệp. Ảnh: H.Nụ
Công chức Hải quan Ninh Bình (Chi cục Hải quan khu vực IV) hướng dẫn thủ tục cho doanh nghiệp. Ảnh: H.Nụ

Tuy nhiên, với lượng hàng hóa đã được áp dụng chính sách thuế đối với khu phi thuế quan trong giai đoạn doanh nghiệp không đáp ứng điều kiện, Chi cục Hải quan khu vực IV đề nghị phải xem xét hồ sơ, chứng từ và dữ liệu thực tế.

Nếu doanh nghiệp giải trình, có hồ sơ, tài liệu, chứng từ, dữ liệu chứng minh hàng hóa nhập khẩu đã được đưa vào sản xuất và thực tế đã xuất khẩu, cơ quan Hải quan kiểm tra, đánh giá thấy nội dung giải trình có cơ sở thì chấp nhận giải trình, không xử lý ấn định thuế mà xử phạt theo quy định đối với hành vi vi phạm.

Ngược lại, nếu doanh nghiệp không giải trình hoặc giải trình nhưng không có hồ sơ, tài liệu, chứng từ, dữ liệu chứng minh, cơ quan Hải quan không có cơ sở kiểm tra, đánh giá thì xử lý theo hướng không được áp dụng chính sách thuế đối với khu phi thuế quan kể từ thời điểm không đáp ứng điều kiện và thực hiện ấn định thuế, xử phạt theo quy định.

Đề xuất này xuất phát từ một thực tế: Việc không duy trì điều kiện giám sát không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không quản lý được hàng hóa.

Chi cục Hải quan khu vực IV dẫn những trường hợp có thể phát sinh do nguyên nhân bất khả kháng như bão tố, mất điện, camera bị hỏng và cần thời gian khắc phục. Đơn vị cho rằng nếu quy định cứng việc xử lý thuế đối với toàn bộ hàng hóa trong giai đoạn này sẽ có thể gây khó khăn lớn cho doanh nghiệp. Mặt khác, có trường hợp doanh nghiệp chỉ vi phạm thủ tục hành chính như chậm thông báo về thay đổi liên quan đến điều kiện kiểm tra, giám sát nhưng không có hành vi buôn lậu, gian lận thương mại.

Điểm cốt lõi trong đề xuất của Chi cục Hải quan khu vực IV là xác định nghĩa vụ thuế phải gắn với bản chất của hàng hóa và hoạt động của doanh nghiệp. Nếu hàng hóa nhập khẩu vẫn được quản lý, được đưa vào sản xuất và sản phẩm thực tế đã xuất khẩu thì cần có cơ chế để chứng minh điều đó thay vì mặc nhiên xử lý toàn bộ số hàng hóa theo cùng một cách.

Cùng hướng tiếp cận này, Chi cục Kiểm tra sau thông quan đề nghị tại trường hợp doanh nghiệp chế xuất không duy trì điều kiện kiểm tra, giám sát phải xem xét hồ sơ, tài liệu, chứng từ và dữ liệu chứng minh hàng hóa nhập khẩu đã được đưa vào sản xuất và thực tế đã xuất khẩu. Trường hợp chứng minh được thì không xử lý ấn định thuế, chỉ xử phạt theo quy định; nếu không có cơ sở chứng minh thì mới xử lý ấn định thuế tương ứng.

Đây là điểm có thể tạo ra sự thay đổi đáng kể trong cách thiết kế chính sách. Điều kiện giám sát vẫn phải được duy trì nghiêm; nhưng hậu quả thuế cần được xác định trên cơ sở mức độ vi phạm và khả năng kiểm soát thực tế đối với hàng hóa.

Cùng với đó, Chi cục Kiểm tra sau thông quan đề nghị giao Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết về việc kiểm tra, xác nhận điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan; điều kiện, thủ tục, hồ sơ áp dụng chính sách thuế đối với khu phi thuế quan không chịu thuế.

Nhìn từ tổng thể, các đề xuất đang hình thành một logic quản lý khá rõ: Điều kiện giám sát là nền tảng, dữ liệu là công cụ chứng minh và bản chất hàng hóa là căn cứ quan trọng để xác định nghĩa vụ thuế.

Theo đánh giá của cơ quan soạn thảo, nếu được thiết kế đồng bộ, quy định mới không chỉ giúp cơ quan Hải quan tăng khả năng kiểm soát doanh nghiệp chế xuất, mà còn tạo cơ chế xử lý sát thực tế hơn đối với những trường hợp doanh nghiệp có sai sót về điều kiện giám sát nhưng vẫn chứng minh được toàn bộ hàng hóa nhập khẩu được quản lý, sử dụng đúng mục đích và sản phẩm đã thực tế xuất khẩu.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hướng dẫn quy trình nghiệp vụ quản lý thuế hộ kinh doanh

Hướng dẫn quy trình nghiệp vụ quản lý thuế hộ kinh doanh

Cục Thuế ban hành sổ tay nghiệp vụ hướng dẫn quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, nhằm thống nhất các bước xử lý, làm rõ trách nhiệm thực hiện và phối hợp, hạn chế sai sót, chậm trễ trong giải quyết công việc.
Xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp: Góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm

Xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp: Góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm

Bộ Tài chính vừa công khai lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết về xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp cho người nộp thuế trạng thái 03, 06. Các chuyên gia cho rằng, chính sách này góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm và hỗ trợ làm sạch dữ liệu trong quản lý thuế.
Hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế: Chuyển mạnh sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro

Hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế: Chuyển mạnh sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thuế, kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi gian lận. Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2026–2030 đặt ra định hướng là chuyển mạnh từ phương thức kiểm tra truyền thống sang kiểm tra trên nền tảng công nghệ số, khai thác dữ liệu tập trung và quản lý rủi ro.
Hướng dẫn xác định sản lượng và giá tính thuế tài nguyên đối với quặng chì, kẽm

Hướng dẫn xác định sản lượng và giá tính thuế tài nguyên đối với quặng chì, kẽm

Cục Thuế vừa có Công văn số 7943/CT-QLNT hướng dẫn về chính sách thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác, chế biến quặng chì, kẽm của Chi nhánh Công ty TNHH TMDV Hoàng Nam tại tỉnh Thái Nguyên. Trong đó, cơ quan thuế lưu ý việc xác định sản lượng và giá tính thuế phải căn cứ vào đặc điểm tài nguyên khai thác, quy trình chế biến và thực tế kinh doanh của doanh nghiệp.
Cơ chế đặc thù xử lý mã số thuế tồn đọng có thể giảm tới 90% nghĩa vụ tài chính

Cơ chế đặc thù xử lý mã số thuế tồn đọng có thể giảm tới 90% nghĩa vụ tài chính

Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, các đề xuất của Bộ Tài chính nếu được thực hiện không chỉ góp phần tháo gỡ gánh nặng tài chính, mà còn tạo động lực xử lý mã số thuế tồn đọng, mở ra cơ hội cho người nộp thuế trở lại thị trường.
Vì sao nên giữ ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng?

Vì sao nên giữ ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng?

Bộ Tài chính đề nghị giữ nguyên mức thanh toán không dùng tiền mặt khi xác định chi phí được trừ tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) từ 5 triệu đồng lên nhằm bảo đảm tính thống nhất của pháp luật và phù hợp với chủ trương đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt.
Thống nhất thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm

Thống nhất thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm

Cục Thuế vừa ban hành Công văn số 7978/CT-NVT yêu cầu Thuế các tỉnh, thành phố chấn chỉnh tình trạng tiếp nhận, xử lý hồ sơ chưa thống nhất, đồng thời hướng dẫn cụ thể thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm.
Bài 4: Củng cố niềm tin vào môi trường kinh doanh

Bài 4: Củng cố niềm tin vào môi trường kinh doanh

Từ thực tiễn triển khai Chiến dịch làm sạch mã số thuế, đến các cơ chế đặc thù giải quyết các vướng mắc đang được Bộ Tài chính đề xuất đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện phương thức quản lý theo vòng đời người nộp thuế, nâng cao tính minh bạch của dữ liệu và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, đáng tin cậy hơn.
Gỡ vướng mã số thuế tồn đọng mang lại lợi ích kép cho nền kinh tế

Gỡ vướng mã số thuế tồn đọng mang lại lợi ích kép cho nền kinh tế

Nhiều ý kiến góp ý từ các tổ chức đại diện cộng đồng doanh nghiệp và tư vấn thuế đánh giá cao sự chủ động của Bộ Tài chính trong đề xuất cơ chế đặc thù tháo gỡ những tồn đọng về mã số thuế. Các ý kiến cho rằng, các đề xuất này không chỉ góp phần giảm gánh nặng tuân thủ, cải thiện môi trường kinh doanh mà còn nâng cao tính minh bạch, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Giảm thuế trong hai năm liên tiếp: Chính sách sát thực tiễn, doanh nghiệp có thêm động lực phát triển

Giảm thuế trong hai năm liên tiếp: Chính sách sát thực tiễn, doanh nghiệp có thêm động lực phát triển

Trong bối cảnh doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nhiều áp lực về chi phí đầu vào, thị trường tiêu thụ và khả năng tiếp cận nguồn vốn, chính sách hỗ trợ về thuế tiếp tục là một trong những giải pháp quan trọng khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Đặc biệt, chính sách giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong hai năm 2026 và 2027 được kỳ vọng góp phần giảm áp lực chi phí, cải thiện dòng tiền, tạo thêm nguồn lực để doanh nghiệp nhỏ và vừa duy trì hoạt động, mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Bài 3: Tháo gỡ rào cản chính sách trong xử lý mã số thuế tồn đọng

Bài 3: Tháo gỡ rào cản chính sách trong xử lý mã số thuế tồn đọng

Trước những vướng mắc kéo dài trong quá trình xử lý người nộp thuế trạng thái 03, 06, Bộ Tài chính đã xây dựng hai dự thảo Nghị quyết thuộc thẩm quyền Quốc hội và Chính phủ. Các đề xuất tập trung xử lý nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp, nghĩa vụ hồ sơ khai thuế và giảm mức phạt đối với một số hành vi chậm nộp hồ sơ, nhằm tạo điều kiện để người nộp thuế hoàn tất thủ tục khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Tháo gỡ "nút thắt" cho hàng triệu mã số thuế tồn đọng: Cục Thuế nói gì trước nhiều đề xuất đột phá?

Tháo gỡ "nút thắt" cho hàng triệu mã số thuế tồn đọng: Cục Thuế nói gì trước nhiều đề xuất đột phá?

Trước thực trạng hàng triệu mã số thuế rơi vào trạng thái ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục đóng mã số thuế (MST), tạo nên gánh nặng pháp lý kéo dài nhiều năm, Cục Thuế đã có buổi đối thoại trực tiếp, cởi mở với chuyên gia luật doanh nghiệp Trần Vũ Hải và một số người dân để lắng nghe hàng loạt đề xuất tháo gỡ mang tính đột phá.
Hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính thuế

Hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính thuế

Cục Thuế vừa có Công văn số 8232/CT-PC hướng dẫn Thuế tỉnh Đồng Tháp tháo gỡ vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chậm nộp hoặc không nộp Thông báo doanh thu và thông báo số tài khoản ngân hàng, số hiệu ví điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Hộ kinh doanh cần lưu ý gì để không mất quyền lợi giảm 30% thuế thu nhập cá nhân?

Hộ kinh doanh cần lưu ý gì để không mất quyền lợi giảm 30% thuế thu nhập cá nhân?

Chính sách giảm 30% thuế thu nhập trong hai năm 2026 và 2027 mang lại lợi ích đáng kể cho hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu không quá 10 tỷ đồng/năm. Tuy nhiên, chuyên gia cảnh báo, nếu không kiểm soát chặt doanh thu, hóa đơn, chứng từ và chi phí được trừ, người kinh doanh có thể phải nộp bổ sung số thuế đã được giảm hoặc phát sinh nghĩa vụ thuế lớn hơn dự kiến.
Điều kiện khấu trừ thuế khi thanh toán qua bên thứ ba

Điều kiện khấu trừ thuế khi thanh toán qua bên thứ ba

Doanh nghiệp thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ thông qua bên thứ ba phải quy định cụ thể việc ủy quyền hoặc chỉ định thanh toán trong hợp đồng bằng văn bản. Bên thứ ba nhận hoặc thực hiện thanh toán phải là tổ chức, cá nhân đang hoạt động hợp pháp.

Đọc nhiều