Thứ tư 23/09/2026 15:02
Thời tiết: Hà Nội 28°C
Đà Nẵng 27°C
Cà Mau 25°C
Hải Phòng 32°C
TP Hồ Chí Minh 25°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách / Chính sách và cuộc sống
aa

Quản lý khu phi thuế quan từ dữ liệu và bản chất hàng hóa

Nụ Bùi
Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 134/2016/NĐ-CP đang đặt yêu cầu rõ hơn đối với điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan tại khu phi thuế quan, đồng thời các ý kiến góp ý đề nghị việc xử lý thuế phải căn cứ vào khả năng quản lý thực tế và dòng vận động của hàng hóa.
Công chức Hải quan Hà Nam (Chi cục Hải quan khu vực IV) giám sát hàng hóa ra vào kho bãi qua hệ thống camera giám sát trực tuyến. Ảnh: H.Nụ
Công chức Hải quan Hà Nam (Chi cục Hải quan khu vực IV) giám sát hàng hóa ra vào khu phi thuế quan. Ảnh: H.Nụ

Quản lý từ dữ liệu giám sát

Khu phi thuế quan, doanh nghiệp chế xuất được hưởng chính sách thuế đặc thù gắn với điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan. Vì vậy, việc hoàn thiện quy định tại Điều 28 dự thảo Nghị định không chỉ liên quan đến yêu cầu về hàng rào, cổng, cửa ra vào mà còn đặt ra bài toán kiểm soát hàng hóa bằng dữ liệu.

Trong dự thảo, điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan được gắn với hệ thống camera và phần mềm quản lý hàng hóa. Đây là cơ sở để cơ quan Hải quan kiểm soát việc đưa hàng hóa vào, sử dụng trong quá trình sản xuất và đưa sản phẩm ra khỏi khu phi thuế quan.

Từ thực tiễn kiểm tra sau thông quan, Chi cục Kiểm tra sau thông quan đề nghị quy định cụ thể hơn về hệ thống camera. Theo đó, camera phải giám sát liên tục 24/24 giờ, kể cả ngày nghỉ, ngày lễ, tại các vị trí cổng, cửa ra vào và nơi lưu giữ hàng hóa. Dữ liệu hình ảnh phải được kết nối trực tuyến với cơ quan Hải quan quản lý khu phi thuế quan và được lưu giữ tối thiểu 12 tháng. Chi cục cũng đề nghị Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định định dạng thông điệp dữ liệu trao đổi giữa cơ quan Hải quan và doanh nghiệp về hệ thống camera giám sát.

Điểm đáng chú ý là yêu cầu quản lý không dừng ở việc “có camera”, mà hướng đến khả năng cơ quan Hải quan có thể khai thác dữ liệu camera để phục vụ quản lý. Khi dữ liệu được kết nối trực tuyến và lưu giữ đủ thời gian, việc kiểm tra không chỉ dựa vào thời điểm kiểm tra thực tế mà có thể truy xuất quá trình vận động của hàng hóa khi cần thiết.

Đối với phần mềm quản lý hàng hóa, Chi cục Kiểm tra sau thông quan đề nghị quy định theo hướng theo dõi hàng hóa xuất nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế để phục vụ báo cáo quyết toán nhập - xuất - tồn. Đối với doanh nghiệp gia công, sản xuất xuất khẩu, phần mềm phải theo dõi được toàn bộ chuỗi quản lý hàng hóa từ khi nhập khẩu, qua quá trình sản xuất đến khi sản phẩm được xuất khẩu hoặc thay đổi mục đích sử dụng.

Dữ liệu được nhìn nhận như một công cụ quản lý xuyên suốt, giúp cơ quan Hải quan trả lời được câu hỏi quan trọng nhất đối với hàng hóa thuộc diện ưu đãi thuế: Hàng hóa nhập khẩu đã thực sự đi vào đâu, được sử dụng như thế nào và kết quả cuối cùng ra sao?

Cách tiếp cận này cũng tạo cơ sở để phân định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp. Doanh nghiệp được hưởng chính sách thuế phải có khả năng chứng minh quá trình quản lý hàng hóa bằng hệ thống dữ liệu, hồ sơ, chứng từ và báo cáo nhập - xuất - tồn.

Phân định nghĩa vụ thuế theo thực tế hàng hóa

Một vấn đề phức tạp hơn được các đơn vị hải quan đặt ra là trường hợp doanh nghiệp chế xuất đã được xác nhận đủ điều kiện kiểm tra, giám sát nhưng trong quá trình hoạt động phát sinh thời điểm không còn đáp ứng một hoặc một số điều kiện.

Chi cục Hải quan khu vực IV đề nghị bổ sung cơ chế xử lý theo hướng phân biệt rõ từng trường hợp. Theo ý kiến của đơn vị, đối với lượng hàng hóa nhập khẩu kể từ sau thời điểm cơ quan Hải quan kết luận doanh nghiệp không đáp ứng điều kiện thì không được áp dụng chính sách thuế đối với khu phi thuế quan. Nếu doanh nghiệp sau đó đáp ứng trở lại các điều kiện thì được áp dụng chính sách từ ngày có văn bản xác nhận đáp ứng điều kiện.

Công chức Hải quan Ninh Bình (CHi cục Hải quan khu vực IV) hướng dẫn thủ tục cho doanh nghiệp. Ảnh: H.Nụ
Công chức Hải quan Ninh Bình (Chi cục Hải quan khu vực IV) hướng dẫn thủ tục cho doanh nghiệp. Ảnh: H.Nụ

Tuy nhiên, với lượng hàng hóa đã được áp dụng chính sách thuế đối với khu phi thuế quan trong giai đoạn doanh nghiệp không đáp ứng điều kiện, Chi cục Hải quan khu vực IV đề nghị phải xem xét hồ sơ, chứng từ và dữ liệu thực tế.

Nếu doanh nghiệp giải trình, có hồ sơ, tài liệu, chứng từ, dữ liệu chứng minh hàng hóa nhập khẩu đã được đưa vào sản xuất và thực tế đã xuất khẩu, cơ quan Hải quan kiểm tra, đánh giá thấy nội dung giải trình có cơ sở thì chấp nhận giải trình, không xử lý ấn định thuế mà xử phạt theo quy định đối với hành vi vi phạm.

Ngược lại, nếu doanh nghiệp không giải trình hoặc giải trình nhưng không có hồ sơ, tài liệu, chứng từ, dữ liệu chứng minh, cơ quan Hải quan không có cơ sở kiểm tra, đánh giá thì xử lý theo hướng không được áp dụng chính sách thuế đối với khu phi thuế quan kể từ thời điểm không đáp ứng điều kiện và thực hiện ấn định thuế, xử phạt theo quy định.

Đề xuất này xuất phát từ một thực tế: Việc không duy trì điều kiện giám sát không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không quản lý được hàng hóa.

Chi cục Hải quan khu vực IV dẫn những trường hợp có thể phát sinh do nguyên nhân bất khả kháng như bão tố, mất điện, camera bị hỏng và cần thời gian khắc phục. Đơn vị cho rằng nếu quy định cứng việc xử lý thuế đối với toàn bộ hàng hóa trong giai đoạn này sẽ có thể gây khó khăn lớn cho doanh nghiệp. Mặt khác, có trường hợp doanh nghiệp chỉ vi phạm thủ tục hành chính như chậm thông báo về thay đổi liên quan đến điều kiện kiểm tra, giám sát nhưng không có hành vi buôn lậu, gian lận thương mại.

Điểm cốt lõi trong đề xuất của Chi cục Hải quan khu vực IV là xác định nghĩa vụ thuế phải gắn với bản chất của hàng hóa và hoạt động của doanh nghiệp. Nếu hàng hóa nhập khẩu vẫn được quản lý, được đưa vào sản xuất và sản phẩm thực tế đã xuất khẩu thì cần có cơ chế để chứng minh điều đó thay vì mặc nhiên xử lý toàn bộ số hàng hóa theo cùng một cách.

Cùng hướng tiếp cận này, Chi cục Kiểm tra sau thông quan đề nghị tại trường hợp doanh nghiệp chế xuất không duy trì điều kiện kiểm tra, giám sát phải xem xét hồ sơ, tài liệu, chứng từ và dữ liệu chứng minh hàng hóa nhập khẩu đã được đưa vào sản xuất và thực tế đã xuất khẩu. Trường hợp chứng minh được thì không xử lý ấn định thuế, chỉ xử phạt theo quy định; nếu không có cơ sở chứng minh thì mới xử lý ấn định thuế tương ứng.

Đây là điểm có thể tạo ra sự thay đổi đáng kể trong cách thiết kế chính sách. Điều kiện giám sát vẫn phải được duy trì nghiêm; nhưng hậu quả thuế cần được xác định trên cơ sở mức độ vi phạm và khả năng kiểm soát thực tế đối với hàng hóa.

Cùng với đó, Chi cục Kiểm tra sau thông quan đề nghị giao Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết về việc kiểm tra, xác nhận điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan; điều kiện, thủ tục, hồ sơ áp dụng chính sách thuế đối với khu phi thuế quan không chịu thuế.

Nhìn từ tổng thể, các đề xuất đang hình thành một logic quản lý khá rõ: Điều kiện giám sát là nền tảng, dữ liệu là công cụ chứng minh và bản chất hàng hóa là căn cứ quan trọng để xác định nghĩa vụ thuế.

Theo đánh giá của cơ quan soạn thảo, nếu được thiết kế đồng bộ, quy định mới không chỉ giúp cơ quan Hải quan tăng khả năng kiểm soát doanh nghiệp chế xuất, mà còn tạo cơ chế xử lý sát thực tế hơn đối với những trường hợp doanh nghiệp có sai sót về điều kiện giám sát nhưng vẫn chứng minh được toàn bộ hàng hóa nhập khẩu được quản lý, sử dụng đúng mục đích và sản phẩm đã thực tế xuất khẩu.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Ranh giới giữa sửa chữa và hoạt động chế xuất

Ranh giới giữa sửa chữa và hoạt động chế xuất

Vướng mắc của Compal liên quan đến việc xác định hoạt động sửa chữa hàng hóa cho thương nhân nước ngoài có thuộc phạm vi hoạt động chế xuất. Bộ Tài chính cho rằng việc xác định phải căn cứ nội dung, tính chất hoạt động và các quy định pháp luật liên quan.
Hải quan lấy ý kiến quy định mới về thủ tục, kiểm tra, giám sát và kiểm soát hải quan

Hải quan lấy ý kiến quy định mới về thủ tục, kiểm tra, giám sát và kiểm soát hải quan

Cục Hải quan đang lấy ý kiến dự thảo Nghị định và Thông tư quy định chi tiết thi hành Luật Hải quan, với nhiều nội dung được sửa đổi, bổ sung về thủ tục, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, quản lý rủi ro và chuyển đổi số.
Tách rõ từng thông tin trong khai báo phương tiện, hành khách và hàng hóa

Tách rõ từng thông tin trong khai báo phương tiện, hành khách và hàng hóa

Thông tư số 127/2026/TT-BTC quy định cụ thể các trường thông tin khai báo theo từng loại hình vận tải, từ người điều khiển, nhận dạng phương tiện, chủ phương tiện đến hành khách, vận đơn, hàng hóa và container, tạo cơ sở thống nhất dữ liệu khai báo trên hệ thống.
Dự thảo Luật ATTP (sửa đổi): Tăng nhận diện và mở rộng kiểm soát thực phẩm giả

Dự thảo Luật ATTP (sửa đổi): Tăng nhận diện và mở rộng kiểm soát thực phẩm giả

Từ kiểm soát từng sản phẩm sang quản lý rủi ro trong suốt chuỗi cung ứng, dự thảo Luật An toàn thực phẩm (ATTP) sửa đổi đặt ra yêu cầu cao hơn đối với dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và năng lực thu hồi. Trọng tâm không nằm ở việc có thêm một mã để quét, mà ở khả năng nhận diện đúng đối tượng, ghi nhận đúng sự kiện và sử dụng dữ liệu để hành động khi có nguy cơ.
Hoàn thiện quy định về chứng từ điện tử trong thủ tục hải quan

Hoàn thiện quy định về chứng từ điện tử trong thủ tục hải quan

Nghị định số 336/2026/NĐ-CP chuẩn hóa chứng từ điện tử trong Cơ chế một cửa quốc gia, đồng thời đặt yêu cầu về tính hợp pháp, toàn vẹn và khả năng truy xuất khi chứng từ được chuyển đổi giữa bản điện tử và bản giấy.
Cục Thuế đề nghị làm rõ việc khai thác dữ liệu lý lịch tư pháp khi đăng ký hành nghề kiểm toán

Cục Thuế đề nghị làm rõ việc khai thác dữ liệu lý lịch tư pháp khi đăng ký hành nghề kiểm toán

Cục Thuế đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ cá nhân đăng ký hành nghề kiểm toán có phải nộp phiếu lý lịch tư pháp được cấp trong 6 tháng hay cơ quan giải quyết thủ tục hành chính sẽ khai thác thông tin từ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.
Doanh nghiệp bị thông báo không hoạt động tại địa chỉ đăng ký vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thuế

Doanh nghiệp bị thông báo không hoạt động tại địa chỉ đăng ký vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thuế

Trường hợp thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, doanh nghiệp phải hoàn thành các nghĩa vụ theo quy định, trong đó có nộp hồ sơ khai thuế, nộp thuế và xử lý số tiền thuế nộp thừa, số thuế giá trị gia tăng chưa được khấu trừ, nếu có.
Hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu từ yêu cầu thực tiễn

Hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu từ yêu cầu thực tiễn

Sau gần 10 năm thực hiện, Nghị định số 134/2016/NĐ-CP đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho chính sách thuế xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, sự thay đổi của pháp luật, phương thức thương mại và mô hình kinh tế đang đặt ra yêu cầu xây dựng một nghị định mới có tính đồng bộ và khả năng thích ứng cao hơn.
Phân định rõ trách nhiệm xử lý hồ sơ liên ngành theo cơ chế một cửa

Phân định rõ trách nhiệm xử lý hồ sơ liên ngành theo cơ chế một cửa

Nghị định số 336/2026/NĐ-CP quy định thống nhất đầu mối tiếp nhận, chuyển và phản hồi thông tin trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, đồng thời phân định trách nhiệm, thẩm quyền của từng cơ quan trong xử lý hồ sơ liên ngành.
Thủ tục nhập khẩu máy photocopy có chức năng mật mã dân sự

Thủ tục nhập khẩu máy photocopy có chức năng mật mã dân sự

Chi cục Hải quan khu vực II hướng dẫn doanh nghiệp về các quy định và thủ tục hải quan nhập khẩu máy photocopy có chức năng mật mã dân sự.
Điều kiện hoàn thuế GTGT với hàng hóa xuất khẩu mua trong nước

Điều kiện hoàn thuế GTGT với hàng hóa xuất khẩu mua trong nước

Doanh nghiệp mua hàng hóa từ các đơn vị trong nước sau đó xuất khẩu ra thị trường nước ngoài có thể được hoàn thuế GTGT nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện khấu trừ thuế đầu vào và hoàn thuế đối với hàng hóa xuất khẩu. Trong đó, số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết phải từ 300 triệu đồng trở lên theo tháng, hoặc quý.
Thống nhất chỉ tiêu khai báo phương tiện xuất nhập cảnh, quá cảnh, chuyển cảng

Thống nhất chỉ tiêu khai báo phương tiện xuất nhập cảnh, quá cảnh, chuyển cảng

Thông tư số 127/2026/TT-BTC quy định chỉ tiêu thông tin và mẫu chứng từ khai báo đối với phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh, chuyển cảng, thay thế Thông tư số 50/2018/TT-BTC và có hiệu lực từ ngày 15/10/2026. Thông tư thiết kế hệ thống chỉ tiêu riêng cho từng loại phương tiện, đồng thời xác định rõ các trường thông tin bắt buộc và trường khai báo theo bảng mã.
Thực hiện giám sát phương tiện vận tải loại G qua cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị

Thực hiện giám sát phương tiện vận tải loại G qua cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị

Cục Hải quan gửi Chi cục Hải quan khu vực VI danh sách doanh nghiệp, phương tiện vận tải Việt Nam được cấp giấy phép loại G để triển khai kiểm tra, giám sát, kiểm soát phương tiện xuất nhập cảnh qua cửa khẩu biên giới theo quy định.
Nhập khẩu máy móc tháo rời và bài toán xác định tính đồng bộ

Nhập khẩu máy móc tháo rời và bài toán xác định tính đồng bộ

Việc nhập khẩu máy móc, thiết bị tháo rời, vận chuyển qua nhiều container đang gây khó cho doanh nghiệp trong xác định tính đồng bộ. Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI) kiến nghị tháo gỡ yêu cầu giám định, Cục Hải quan đã làm rõ căn cứ và hồ sơ thực hiện.
Đẩy mạnh trao đổi chứng từ điện tử trong khuôn khổ ASEAN

Đẩy mạnh trao đổi chứng từ điện tử trong khuôn khổ ASEAN

Việc trao đổi thông tin, chứng từ điện tử giữa Việt Nam với các nước, vùng lãnh thổ được Nghị định số 336/2026/NĐ-CP đặt trong khuôn khổ các thỏa thuận, điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, tham gia với Cổng thông tin một cửa quốc gia là đầu mối kết nối, tiếp nhận và trao đổi dữ liệu.