![]() |
| Tối thiểu 90% trường hợp được lựa chọn qua phân tích đánh giá tuân thủ pháp luật thuế và phân loại mức độ rủi ro. Ảnh: TQO. |
Ít nhất 90% đối tượng được lựa chọn theo rủi ro
Theo Quy trình kiểm tra thuế ban hành kèm Quyết định số 1161/QĐ-CT, hằng năm Cục Thuế hướng dẫn xây dựng kế hoạch, chuyên đề kiểm tra trong toàn hệ thống, các đơn vị thuộc Cục Thuế căn cứ hướng dẫn và kết quả phân tích, đánh giá rủi ro để lập kế hoạch kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế.
Theo ông Đặng Ngọc Minh, Phó Cục trưởng Cục Thuế, vấn đề đặt ra không chỉ là sửa đổi một quy trình nghiệp vụ, mà là thay đổi tư duy kiểm tra thuế. Thay vì phụ thuộc nhiều vào phương thức thủ công, kiểm tra dàn trải hoặc xử lý sau khi rủi ro đã phát sinh, công tác kiểm tra cần chuyển mạnh sang mô hình quản trị rủi ro, khai thác dữ liệu và nhận diện sớm dấu hiệu bất thường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế.
Đáng chú ý, cơ cấu lựa chọn được quy định theo hai nhóm gồm: nhóm được lựa chọn qua phân tích đánh giá tuân thủ pháp luật thuế và phân loại mức độ rủi ro không dưới 90% tổng số trường hợp trong kế hoạch kiểm tra hằng năm; nhóm được lựa chọn ngẫu nhiên không quá 10%, có thể do bộ phận lập kế hoạch lựa chọn hoặc thông qua chức năng hỗ trợ ngẫu nhiên của ứng dụng.
Trong nhóm dựa trên rủi ro, người nộp thuế được xếp theo mức độ từ cao xuống thấp, đồng thời xem xét lựa chọn trường hợp đã qua 5 năm chưa được kiểm tra. Tuy nhiên, danh sách không phải cố định một cách cơ học, nếu có thông tin tin cậy làm giảm mức độ rủi ro xuống thấp, cơ quan Thuế có thể không đưa người nộp thuế vào kế hoạch và lựa chọn trường hợp khác; ngược lại, khi thu thập, xác minh được dấu hiệu rủi ro cao, đối tượng có thể được bổ sung.
Danh sách người nộp thuế được lựa chọn kiểm tra theo kế hoạch, chuyện đề kiểm tra hằng năm gồm các nội dung chủ yếu như: tên, địa chỉ, mã số thuế, nội dung, chuyên đề và thời gian dự kiến kiểm tra, được thực hiện theo mẫu số mẫu số 06/QTKT-TC. Bên cạnh đó, hồ sơ trình quyết định còn phải nêu rõ lý do, thời kỳ; kèm phiếu phân tích rủi ro và dự thảo hồ sơ giám sát đoàn kiểm tra.
Việc xác định trước nội dung, thời kỳ giúp giới hạn phạm vi cuộc kiểm tra. Quyết định phải được gửi cho người nộp thuế chậm nhất 3 ngày làm việc và cuộc kiểm tra được tiến hành chậm nhất 10 ngày làm việc kể từ ngày ban hành, trừ trường hợp bãi bỏ hoặc hoãn.
Thời hạn kiểm tra thông thường không quá 20 ngày và có thể gia hạn một lần không quá 20 ngày. Với doanh nghiệp có giao dịch liên kết, các mốc tương ứng là 40 ngày. Trường hợp cần trao đổi thông tin với cơ quan Thuế nước ngoài, thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 2 năm.
![]() |
| Người nộp thuế được thông báo chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày ban hành quyết định phê duyệt hoặc điều chỉnh kế hoạch, chuyên đề kiểm tra. Ảnh: TQO. |
Công khai trong 30 ngày siết trách nhiệm giám sát
Kế hoạch, chuyên đề kiểm tra hằng năm, chuyên đề phát sinh trong năm và các nội dung sau điều chỉnh được công khai thông tin hoặc thông báo cho người nộp thuế và cơ quan Thuế quản lý trực tiếp với thời hạn chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày ban hành quyết định phê duyệt hoặc điều chỉnh.
Thời hạn trên ý nghĩa trực tiếp đối với doanh nghiệp, giúp tạo điều kiện để doanh nghiệp có thời gian rà soát hồ sơ, bố trí nhân sự và chuẩn bị dữ liệu, đồng thời việc công khai sớm cũng tạo cơ sở để người nộp thuế phản ánh trường hợp trùng lặp, sai thông tin hoặc thay đổi tình trạng hoạt động.
Đáng chú ý, nếu kế hoạch kiểm tra của cơ quan Thuế cấp dưới trùng đối tượng với kế hoạch thanh tra, kiểm tra của Thanh tra, Kiểm toán Nhà nước hoặc cơ quan Thuế cấp trên thì ưu tiên thực hiện theo kế hoạch của các cơ quan này. Trường hợp trùng với kế hoạch của cơ quan nhà nước khác, Thủ trưởng cơ quan Thuế chủ động phối hợp với đơn vị liên quan để thống nhất phương án xử lý và báo cáo cơ quan phê duyệt kế hoạch khi cần thiết.
Quy định này nhằm hạn chế tình trạng một người nộp thuế phải tiếp nhiều đoàn kiểm tra trong cùng thời kỳ, qua đó giảm chồng chéo và tránh phát sinh thủ tục không cần thiết. Đồng thời, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giúp nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát nhưng vẫn bảo đảm hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp không bị ảnh hưởng quá mức.
Trước đó, ông Nguyễn Tiến Trung, Trưởng ban Kiểm tra (Cục Thuế) nhấn mạnh, việc hoàn thiện quy trình không chỉ nhằm nâng cao chất lượng kiểm tra mà còn phải giảm thủ tục hành chính, bảo đảm tính minh bạch và thống nhất trong thực thi trên toàn ngành.
Kế hoạch kiểm tra được phép điều chỉnh trên cơ sở đánh giá lại mức độ rủi ro, xử lý tình trạng trùng lặp, thay đổi trạng thái pháp lý của người nộp thuế hoặc khi phát sinh sự kiện bất khả kháng. Việc bổ sung đối tượng kiểm tra phải ưu tiên theo mức độ rủi ro từ cao xuống thấp, trong khi điều chỉnh giảm được thực hiện từ nhóm có rủi ro thấp, qua đó góp phần tập trung nguồn lực kiểm tra đúng đối tượng và hạn chế phát sinh kiểm tra không cần thiết đối với người nộp thuế.
Sự kết hợp giữa lựa chọn theo rủi ro, công khai kế hoạch, giới hạn phạm vi và giám sát điện tử cho thấy quy trình mới không chỉ hướng tới phát hiện vi phạm mà còn đặt yêu cầu kiểm soát chính hoạt động kiểm tra. Khi các cơ chế này được vận hành đồng bộ, doanh nghiệp tuân thủ tốt có thể giảm áp lực kiểm tra không cần thiết, còn nguồn lực quản lý được tập trung vào khu vực có nguy cơ thất thu cao hơn.