![]() |
| Lễ ra mắt Sách trắng Thuế Việt Nam 2026. Ảnh: Trung Kiên. |
Tái cơ cấu nguồn thu: Từ tăng thu sang nuôi dưỡng nguồn thu
Trong hơn một thập kỷ qua, việc thực thi hàng loạt hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới đã kéo theo lộ trình cắt giảm mạnh thuế nhập khẩu. Cùng với đó, tỷ trọng thu từ dầu thô và tài nguyên khoáng sản giảm, khiến nguồn thu truyền thống dần thu hẹp. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải cơ cấu lại nguồn thu, mở rộng cơ sở thuế và tạo lập những động lực tăng trưởng mới cho ngân sách nhà nước.
Bám sát yêu cầu đó, các luật thuế trọng yếu như Luật thuế Giá trị gia tăng, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt, Luật thuế Thu nhập cá nhân và Luật Quản lý thuế được sửa đổi đồng bộ, tạo nền tảng pháp lý cho việc chuyển dịch cơ cấu thu ngân sách theo hướng bền vững, giảm dần phụ thuộc vào dầu thô và thuế nhập khẩu.
Song song với việc sửa đổi các sắc thuế, ngành Thuế đã triển khai cuộc cải cách sâu rộng về quản lý, chuyển mạnh từ phương thức quản lý hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu, rủi ro và mức độ tuân thủ; đồng thời lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.
Cách tiếp cận này cho thấy trọng tâm của cải cách không còn chỉ là tăng thu ngân sách bằng các biện pháp hành chính, mà chuyển sang quản trị nguồn thu trên cơ sở mở rộng cơ sở thuế, nâng cao mức độ tuân thủ và nuôi dưỡng nguồn thu bền vững.
Theo đó, ngành Thuế đã đẩy mạnh chuyển đổi số, mở rộng hóa đơn điện tử, hoàn thuế điện tử, ứng dụng eTax Mobile, xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các bộ, ngành.
Phương thức quản lý cũng chuyển từ hậu kiểm sang hỗ trợ người nộp thuế ngay từ đầu, ứng dụng dữ liệu lớn và quản lý rủi ro để tạo thuận lợi cho người chấp hành tốt, đồng thời tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao như thương mại điện tử, kinh tế số và giao dịch xuyên biên giới.
Cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh, giúp giảm khoảng 4.400 tỷ đồng chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp, rút ngắn 481 ngày giải quyết thủ tục hành chính.
Đặc biệt, việc chuyển sang quản trị nguồn thu dựa trên dữ liệu đã giúp ngành Thuế mở rộng quản lý hiệu quả đối với thương mại điện tử và kinh tế số. Thông qua Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài, Cổng thông tin thương mại điện tử trong nước cùng việc kết nối dữ liệu với ngân hàng, hải quan, bảo hiểm xã hội và các nền tảng số, nhiều nguồn thu trước đây khó kiểm soát đã từng bước được đưa vào diện quản lý. Riêng năm 2025, số thu từ thương mại điện tử và kinh tế số đạt khoảng 208.800 tỷ đồng, tăng 66,5% so với năm trước.
Hiệu quả của quá trình cải cách được phản ánh rõ nét qua kết quả thu ngân sách. Giai đoạn 2021-2025, tổng thu ngân sách nhà nước đạt khoảng 9,922 triệu tỷ đồng, bằng 119,5% mục tiêu Quốc hội giao; trong đó số thu do cơ quan Thuế quản lý đạt khoảng 8,527 triệu tỷ đồng, vượt 24,1% dự toán. Tỷ lệ huy động vào ngân sách đạt khoảng 18,8% GDP, trong đó thu từ thuế và phí đạt 14,7% GDP, đều vượt mục tiêu đề ra. Đáng chú ý, tỷ trọng thu nội địa tăng lên trên 86% tổng thu ngân sách, phản ánh sự chuyển dịch tích cực của cơ cấu nguồn thu theo hướng bền vững.
Cục trưởng Cục Thuế Mai Xuân Thành cho rằng, đây không chỉ là kết quả của việc hoàn thiện chính sách thuế, mà còn là thành quả của quá trình hiện đại hóa quản lý, mở rộng cơ sở thu, chuyển đổi số và quản trị rủi ro trong toàn ngành Thuế. Theo ông Thành, dù triển khai nhiều chính sách hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, ngành Thuế vẫn hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thu ngân sách, góp phần củng cố nền tảng tài chính quốc gia và tạo dư địa cho phát triển kinh tế.
![]() |
Trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng cao và yêu cầu hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thu ngân sách, ngành Thuế sẽ tiếp tục chuyển trọng tâm từ quản lý theo hồ sơ sang quản trị bằng dữ liệu, mở rộng cơ sở thu đối với thương mại điện tử, kinh tế số, giao dịch xuyên biên giới và tài sản số; đồng thời tăng cường hỗ trợ người nộp thuế để nâng cao mức độ tuân thủ tự nguyện.
“Tăng thu phải đi đôi với nuôi dưỡng nguồn thu và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, chứ không phải gia tăng gánh nặng cho doanh nghiệp và người dân”, ông Mai Xuân Thành Thành nhấn mạnh.
Những nỗ lực của ngành Thuế trong suốt thời gian qua cũng được người đứng đầu ngành Tài chính ghi nhận và đánh giá cao. Tại buổi làm việc với Cục Thuế vào tháng 5/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho rằng, trong suốt quá trình phát triển, ngành Thuế đã có nhiều đóng góp quan trọng trong thu ngân sách, chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính và tinh gọn bộ máy; đặc biệt là những chuyển biến tích cực trong quản lý thuế đối với thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số và các lĩnh vực kinh doanh mới.
Kiến tạo môi trường thuế công bằng từ chính sách đến quản lý
Một mục tiêu xuyên suốt khác của cải cách thuế là xây dựng môi trường thuế công bằng, minh bạch và thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp. Trong giai đoạn phát triển mới, thuế không chỉ thực hiện chức năng huy động nguồn lực, mà còn trở thành công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng, khuyến khích đầu tư, đổi mới sáng tạo và nuôi dưỡng nguồn thu bền vững.
Một hệ thống thuế hiện đại không chỉ bảo đảm phân bổ hợp lý nghĩa vụ thuế theo khả năng đóng góp, mà còn phải giúp người dân và doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ với chi phí thấp nhất, trên nền tảng quản lý minh bạch, thuận tiện và bình đẳng. Đây cũng là điều kiện quan trọng để nâng cao tính tuân thủ tự nguyện và củng cố niềm tin của xã hội đối với chính sách thuế.
Bên cạnh ý nghĩa hỗ trợ trước mắt, các chính sách này cũng cho thấy sự thay đổi trong tư duy điều hành chính sách thuế, từ mục tiêu tối đa hóa số thu sang sử dụng công cụ thuế như một đòn bẩy ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ phục hồi sản xuất và nuôi dưỡng nguồn thu lâu dài.
Trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí và tiền thuê đất đã góp phần giảm chi phí cho doanh nghiệp, hỗ trợ người dân phục hồi sản xuất, kinh doanh và kích thích tiêu dùng. Theo đó, giai đoạn 2020-2025, tổng quy mô các giải pháp miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất ước khoảng 1,15 triệu tỷ đồng. Riêng 7 tháng đầu năm 2026, quy mô hỗ trợ tiếp tục đạt khoảng 173.600 tỷ đồng. Các chính sách được triển khai đồng thời theo hai hướng: giảm trực tiếp nghĩa vụ tài chính và gia hạn thời hạn nộp thuế nhằm hỗ trợ dòng tiền cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh và người dân nhưng vẫn bảo đảm cân đối ngân sách nhà nước.
Đặc biệt, trong giai đoạn giá năng lượng thế giới biến động mạnh do xung đột địa chính trị, việc nhiều lần điều chỉnh giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu cùng các giải pháp giảm thuế, phí liên quan đã góp phần giảm áp lực chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, kiềm chế lạm phát và ổn định thị trường trong nước. Đây được xem là một trong những minh chứng rõ nét cho vai trò điều tiết linh hoạt của chính sách tài khóa trong ứng phó với các cú sốc từ bên ngoài. Qua đó, chính sách thuế tiếp tục đóng góp vào mục tiêu phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế, tạo dư địa để GDP 6 tháng đầu năm 2026 đạt mức tăng 8,18%, cao nhất trong 15 năm trở lại đây.
Không dừng ở các gói hỗ trợ quy mô lớn, chính sách thuế tiếp tục hướng tới khu vực doanh nghiệp nhỏ, hộ và cá nhân kinh doanh - khu vực được xác định là động lực quan trọng của nền kinh tế.
![]() |
| “Trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng cao và yêu cầu hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thu ngân sách, ngành Thuế sẽ tiếp tục chuyển trọng tâm từ quản lý theo hồ sơ sang quản trị bằng dữ liệu, mở rộng cơ sở thu đối với thương mại điện tử, kinh tế số, giao dịch xuyên biên giới và tài sản số; đồng thời tăng cường hỗ trợ người nộp thuế để nâng cao mức độ tuân thủ tự nguyện”. Cục trưởng Cục Thuế Mai Xuân Thành. |
TS. Nguyễn Như Quỳnh, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, “nuôi dưỡng nguồn thu” là cách tiếp cận mang tính chiến lược của cải cách thuế.
Thay vì tập trung tận thu, chính sách cần tạo điều kiện để doanh nghiệp và hộ kinh doanh mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, qua đó hình thành quy mô nền kinh tế lớn hơn và nguồn thu ngân sách ổn định, bền vững hơn trong tương lai.
Ở góc độ công bằng xã hội, quá trình hoàn thiện chính sách thuế cũng từng bước bảo đảm nguyên tắc điều tiết theo khả năng đóng góp. Luật thuế Thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 giảm từ 7 xuống còn 5 bậc thuế, điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh và hoàn thiện phương pháp tính thuế, mở rộng các khoản thu nhập được miễn thuế...
Các quy định này không chỉ phù hợp hơn với sự thay đổi của mức sống và thu nhập của người dân, mà còn góp phần thực hiện nguyên tắc người có thu nhập cao đóng góp nhiều hơn, người có thu nhập thấp được giảm bớt gánh nặng nghĩa vụ thuế. Qua đó, thuế thu nhập cá nhân tiếp tục khẳng định vai trò là công cụ điều tiết thu nhập, góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và tăng cường đồng thuận xã hội đối với chính sách thuế.
Nếu chính sách thuế hướng tới công bằng trong phân bổ nghĩa vụ, thì cải cách quản lý thuế lại hướng tới công bằng trong thực thi. Việc chấm dứt phương pháp thuế khoán để chuyển sang phương pháp kê khai theo doanh thu thực đối với hộ, cá nhân kinh doanh là bước tiến quan trọng.
Chính sách đưa hộ kinh doanh và doanh nghiệp từng bước hoạt động trên cùng một nền tảng minh bạch về dữ liệu, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn. Cùng với đó là việc nâng ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế lên 1 tỷ đồng/năm, cung cấp miễn phí phần mềm kế toán dùng chung, áp dụng chế độ sổ sách tối giản và hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi phương thức quản lý.
Khi doanh nghiệp và hộ kinh doanh cùng hoạt động trên cơ sở doanh thu thực, môi trường cạnh tranh sẽ minh bạch hơn, hạn chế tình trạng chênh lệch về nghĩa vụ thuế giữa các loại hình kinh doanh, đồng thời tạo nền tảng để khu vực kinh tế phi chính thức từng bước chuyển sang hoạt động chính thức.
Hướng tới hệ thống thuế hiện đại trong kỷ nguyên hội nhập
Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, thương mại điện tử xuyên biên giới cùng việc triển khai Chương trình chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (BEPS) của OECD/G20 và thuế tối thiểu toàn cầu (GMT) đang làm thay đổi căn bản cách thức các quốc gia xác lập quyền đánh thuế. Trong bối cảnh đó, cải cách hệ thống thuế không chỉ nhằm bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, mà còn là yêu cầu tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và chủ động hội nhập với các chuẩn mực quản trị thuế quốc tế.
![]() |
| Ảnh minh họa có sự hỗ trợ của AI |
Một dấu mốc quan trọng của tiến trình này là nỗ lực của ngành Thuế trong việc triển khai thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu. Sau hơn 2 năm thực hiện, đến ngày 10/7/2026, đã có 1.654 tập đoàn kê khai thuế tối thiểu nội địa đạt chuẩn (QDMTT) và 23 tập đoàn kê khai theo quy định tổng hợp thu nhập chịu thuế tối thiểu (IIR), với tổng số thuế nộp ngân sách đạt 15.973 tỷ đồng. Không chỉ bổ sung nguồn thu cho ngân sách, chính sách này còn khẳng định quyền đánh thuế của Việt Nam đối với các tập đoàn đa quốc gia, hạn chế chuyển lợi nhuận và đưa hệ thống thuế Việt Nam tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.
Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư không còn chủ yếu dựa vào ưu đãi thuế, các nhà đầu tư ngày càng quan tâm nhiều hơn tới tính ổn định của chính sách, chất lượng thể chế, mức độ minh bạch và chi phí tuân thủ. Điều đó cũng đặt ra yêu cầu cải cách thuế phải gắn chặt với cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và hiện đại hóa phương thức quản lý.
Những năm qua, ngành Thuế đã từng bước xây dựng nền tảng quản trị thuế số thông qua việc kết nối dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, ngân hàng, hải quan, bảo hiểm xã hội, đăng ký doanh nghiệp, hóa đơn điện tử và các nền tảng thương mại điện tử. Từ phương thức chủ yếu dựa vào hồ sơ khai thuế của người nộp thuế, cơ quan Thuế đang chuyển mạnh sang phân tích dữ liệu lớn, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quản lý rủi ro và hỗ trợ tuân thủ ngay từ đầu.
Đây cũng là định hướng được thể chế hóa trong Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 và Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị Trung ương 2 về phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, đầu tư công, vay, trả nợ công giai đoạn 2026 - 2030 đã nêu rõ nhóm nhiệm vụ giải pháp về tài chính quốc gia, trong đó nhấn mạnh: nâng cao chất lượng nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, tăng tính bền vững của nền tài chính quốc gia; xây dựng hệ thống thuế hiện đại, minh bạch, vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước; hạn chế tối đa việc lồng ghép chính sách xã hội trong chính sách thuế, bảo đảm tính trung lập của hệ thống thuế; không mở rộng ưu đãi thuế đặc thù ở địa phương; chuyển thu hút FDI từ ưu đãi thuế sang ưu đãi khác, ưu đãi theo kết quả; và cho phép Chính phủ chủ động điều chỉnh thuế, phí trong trường hợp khẩn cấp.
Cùng với đó, Nghị quyết số 26/2026/QH16 cũng đã đặt ra mục tiêu tổng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2026-2030 khoảng 16,4 triệu tỷ đồng, tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước bình quân đạt 18% GDP, tỷ trọng thu nội địa bình quân khoảng 87 - 88% tổng thu.
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới phát triển nhanh, bền vững đất nước, phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, đồng thời cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân, thì hệ thống thuế cần được tái định vị không chỉ là công cụ thu ngân sách, mà là còn là một trong các công cụ chính sách góp phần điều tiết vĩ mô và dẫn dắt tăng trưởng.
Điều đó cũng đồng nghĩa với việc yêu cầu đặt ra đối với ngành Thuế không chỉ là hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách, mà còn phải tiếp tục kiến tạo môi trường đầu tư thuận lợi, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo dư địa cho tăng trưởng dài hạn.
Nhiệm vụ thu ngân sách ngày càng cao trong khi dư địa tăng thu từ các nguồn truyền thống dần thu hẹp, ngành Thuế xác định cải cách thể chế, chuyển đổi số và mở rộng cơ sở thu sẽ là những động lực chủ yếu để hoàn thành nhiệm vụ tài chính - ngân sách, đồng thời tiếp tục tạo thuận lợi cho người nộp thuế và nuôi dưỡng nguồn thu lâu dài.
Theo ông Mai Xuân Thành, giai đoạn 2026-2030, ngành Thuế sẽ tiếp tục cải cách mạnh mẽ theo hướng hoàn thiện thể chế, mở rộng cơ sở thu đối với thương mại điện tử, kinh tế số, giao dịch xuyên biên giới và tài sản số; hiện đại hóa hệ thống quản lý bằng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, quản lý rủi ro và giám sát theo thời gian thực. Đồng thời, ngành Thuế sẽ tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, lấy người nộp thuế làm trung tâm, tăng cường kết nối dữ liệu với các bộ, ngành và xây dựng đội ngũ công chức thuế chuyên nghiệp, liêm chính, làm chủ công nghệ và tư duy dữ liệu.